<!DOCTYPE html>
    <html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
    <head>
<title>Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn&#x3A; Văn hóa thời kỳ Veda &#40;1600 – 600 TCN&#41;</title>
<meta name="description" content="Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn&#x3A; Văn hóa thời kỳ Veda &#40;1600 – 600 TCN&#41; - Savefile - Tin Tức -...">
<meta name="author" content="Khoa Đông phương học">
<meta name="copyright" content="Khoa Đông phương học [webmaster@flis.vinades.my]">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.5">
<meta name="viewport" content="width=device-width, initial-scale=1">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn: Văn hóa thời kỳ Veda (1600 – 600 TCN)">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;fos.ussh.vnu.edu.vn&#x002F;vi&#x002F;news&#x002F;savefile&#x002F;tan-man-phuong-dong&#x002F;tim-ve-coi-nguon-van-hoa-an-van-hoa-thoi-ky-veda-1600-600-tcn-116.html">
<meta property="og:site_name" content="Khoa Đông phương học">
<meta property="og:url" content="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/tim-ve-coi-nguon-van-hoa-an-van-hoa-thoi-ky-veda-1600-600-tcn-116.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/uploads/fos/dph-4.png">
<link rel="canonical" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/tim-ve-coi-nguon-van-hoa-an-van-hoa-thoi-ky-veda-1600-600-tcn-116.html">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/" title="Tin Tức" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/tin-hoat-dong/" title="Tin Tức - Tin hoạt động" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/su-kien-nha-truong/" title="Tin Tức - Nhân vật - Sự kiện" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/lich-cong-tac-tuan/" title="Tin Tức - Lịch công tác tuần" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/thong-tin-tuyen-sinh/" title="Tin Tức - Thông tin tuyển sinh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/tan-man-phuong-dong/" title="Tin Tức - Tản mạn Phương Đông" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/bootstrap.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.responsive.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/css/news.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/fonts/Alatsi/stylesheet.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/custom.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/flis.vi.21.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/main.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/custom.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/bootstrap.min.js" type="text/javascript">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/bootstrap.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/css/news.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/fonts/Alatsi/stylesheet.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/custom.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/flis.vi.21.css">
<style type="text/css">
	body{background: #fff;}
</style>
    </head>
    <body class="sub-page">
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Khoa Đông phương học</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Khoa Đông phương học" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/">https://fos.ussh.vnu.edu.vn</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn: Văn hóa thời kỳ Veda (1600 – 600 TCN)</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ tư - 16/03/2016 00:00</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
		</div>
				<div class="imghome">
			<img alt="Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn: Văn hóa thời kỳ Veda (1600 – 600 TCN)" src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/uploads/fos/news/2016_03/blog-home-600.jpg" width="650" class="img-thumbnail" />
						<p>
				<em>Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn: Văn hóa thời kỳ Veda (1600 – 600 TCN)</em>
			</p>
		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
			<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong b&agrave;i viết n&agrave;y, người viết muốn tiếp theo d&ograve;ng lịch sử Ấn Độ cổ đại để đi x&acirc;u t&igrave;m hiểu văn h&oacute;a Veda sau sự suy t&agrave;n c&ograve;n nhiều dấu hỏi của nền văn minh Harappa. Để người đọc c&oacute; thể h&igrave;nh dung được văn h&oacute;a, kh&aacute;c văn minh ở điểm n&agrave;o?</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trải qua qu&aacute; tr&igrave;nh lịch sử c&ugrave;ng với sự h&igrave;nh th&agrave;nh của c&aacute;c nền văn h&oacute;a của nh&acirc;n loại, Văn h&oacute;a Veda l&agrave; điển h&igrave;nh cho văn h&oacute;a của người phương Đ&ocirc;ng, l&agrave; nền tảng cho nhiều tư tưởng triết học, t&ocirc;n gi&aacute;o cũng như nhiều lĩnh vực kh&aacute;c của đời sống con người. Để t&igrave;m hiểu về Văn h&oacute;a Veda trước ti&ecirc;n ch&uacute;ng ta hay đi t&igrave;m hiểu xem Văn h&oacute;a l&agrave; g&igrave;?</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>Văn h&oacute;a</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Văn h&oacute;a l&agrave; kh&aacute;i niệm mang nội h&agrave;m rộng với rất nhiều c&aacute;ch hiểu kh&aacute;c nhau, li&ecirc;n quan đến mọi mặt đời sống vật chất v&agrave; tinh thần của con người. Nh&agrave; nghi&ecirc;n cứu văn h&oacute;a Đỗ Trọng Huề ph&acirc;n t&iacute;ch Văn h&oacute;a theo nghĩa hẹp v&agrave; nghĩa rộng. Nghĩa hẹp, văn h&oacute;a được hiểu như l&agrave; chỉ kiến thức hay học vấn v&agrave; d&ugrave;ng để chỉ văn chương v&agrave; nghệ thuật. Nghĩa rộng, văn h&oacute;a chỉ phần sinh hoạt của lo&agrave;i người trong l&atilde;nh vực tinh thần. Đ&oacute; l&agrave; những học thuyết, những triết thuyết đưa dẫn suy tư của con người l&ecirc;n một b&igrave;nh diện cao hơn đời sống vật chất h&agrave;ng ng&agrave;y. Hơn nưa, văn h&oacute;a bao gồm cả văn Minh, v&igrave; văn h&oacute;a ch&iacute;nh l&agrave; sự tiến bộ của con người cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất hầu l&agrave;m cho đời sống con người được hạnh ph&uacute;c hơn, phong ph&uacute; hơn. Hay n&oacute;i c&aacute;ch kh&aacute;c l&agrave; tiến gần tới ch&acirc;n, thiện, mỹ, lợi v&agrave; th&uacute; hơn. Nghi&atilde; rộng n&agrave;y c&oacute; thể được d&ugrave;ng như một định nghi&atilde; cho Văn H&oacute;a.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Theo Gi&aacute;o sư Đ&agrave;o Duy Anh, trong H&aacute;n- Việt Tự Điển, t&aacute;c giả đ&atilde; định nghĩa: &ldquo;Văn h&oacute;a (văn vật v&agrave; gi&aacute;o h&oacute;a) l&agrave; d&ugrave;ng văn tự m&agrave; gi&aacute;o h&oacute;a cho người; Văn minh ( phản nghĩa với d&atilde; man) l&agrave; c&aacute;i tia của đạo đức, ph&aacute;t hiện ở nơi ch&iacute;nh trị, ph&aacute;p luật, học thuật, điển chương, v.v&hellip;. ; Văn hiến l&agrave; s&aacute;ch vở v&agrave; nh&acirc;n vật tốt trong một đời.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Theo ng&ocirc;n ngữ của phương T&acirc;y, từ tương ứng với văn h&oacute;a của tiếng Việt (culture trong tiếng Anh v&agrave; tiếng Ph&aacute;p, kultur trong tiếng Đức,&hellip;) c&oacute; nguồn gốc từ c&aacute;c dạng của động từ Latin colere l&agrave; colo, colui, cultus với hai nghĩa: (1) giữ g&igrave;n, chăm s&oacute;c, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu c&uacute;ng. Theo tự điển của Viện H&agrave;n L&acirc;m Ph&aacute;p &ldquo;To&agrave;n bộ những thụ đắc về văn chương, nghệ thuật, thủ c&ocirc;ng nghệ, kỹ thuật, khoa học, phong h&oacute;a, luật lệ, cơ chế, tục lệ, truyền thống, những c&aacute;ch suy nghĩ v&agrave; những c&aacute;ch sống, những c&aacute;ch ứng xử v&agrave; xử dụng thuộc mọi l&atilde;nh vực, những lễ nghi, những thần thoại v&agrave; tin tưởng tạo n&ecirc;n một di sản cộng đồng v&agrave; c&aacute; t&iacute;nh của một nước, một d&acirc;n tộc hay một nh&oacute;m sắc d&acirc;n, một quốc gia&rdquo;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">C&oacute; thể n&oacute;i, văn h&oacute;a l&agrave; một phạm tr&ugrave; mang &yacute; nghĩa rất rộng. Dưới c&aacute;c g&oacute;c nh&igrave;n kh&aacute;c nhau, c&aacute;c nền văn h&oacute;a kh&aacute;c nhau sẽ cho ta một một c&aacute;ch hiểu kh&aacute;c nhau về văn h&oacute;a. Văn h&oacute;a được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghi&ecirc;n cứu như d&acirc;n tộc học, nh&acirc;n loại học, d&acirc;n gian học, địa văn h&oacute;a học, văn h&oacute;a học, x&atilde; hội học,&hellip;v&agrave; trong mỗi lĩnh vực nghi&ecirc;n cứu đ&oacute; định nghĩa về văn h&oacute;a cũng kh&aacute;c nhau. C&aacute;c định nghĩa về văn h&oacute;a nhiều v&agrave; c&aacute;ch tiếp cận kh&aacute;c nhau đến nỗi ngay cả c&aacute;ch ph&acirc;n loại c&aacute;c định nghĩa về văn h&oacute;a cũng c&oacute; nhiều. Theo quan điểm của c&aacute;c nh&agrave; x&atilde; hội học phương T&acirc;y như A. Kroeber v&agrave; C. Kluc Kholm: &ldquo;Trọng t&acirc;m của văn h&oacute;a bao gồm những tập truyền tư tưởng v&agrave; nhất l&agrave; những gi&aacute; trị d&iacute;nh liền với c&aacute;c tư tưởng đ&oacute;. Hệ thống văn h&oacute;a l&agrave; một mặt được coi như l&agrave; sản phẩm của h&agrave;nh động, mặt kh&aacute;c l&agrave; điều kiện để thực thi c&aacute;c h&agrave;nh động kh&aacute;c.&nbsp;<em>[A. Kroeber &amp; C. Kluckholm, Culture, a critical Review of Concepts and Definition, tr. 357].&nbsp;</em>C&aacute;c nh&agrave; nh&acirc;n chủng học Mỹ th&igrave; cho rằng &ldquo;Văn h&oacute;a gồm những g&igrave; m&agrave; c&aacute;c nh&agrave; x&atilde; hội học gọi l&agrave; hệ thống x&atilde; hội&rdquo;. [<em>T. Parsons,&nbsp; The Point of View of the Author, tr. 333]&nbsp;</em></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Tự điển The New Encyclopaedia Britannica cũng định nghĩa Văn H&oacute;a l&agrave; &ldquo;To&agrave;n bộ hiểu biết, tin tưởng v&agrave; c&aacute;ch cư xử của nh&acirc;n loại. Văn H&oacute;a được định nghi&atilde; như thế bao gồm ng&ocirc;n ngữ, tư tưởng, t&iacute;n ngưỡng, phong tục, những cấm kỵ, luật lệ, cơ chế, dụng cụ, kỹ thuật, t&aacute;c phẩm nghệ thuật, nghi thức, lễ nghi v&agrave; những th&agrave;nh phần li&ecirc;n hệ kh&aacute;c. Sự ph&aacute;t triển văn h&oacute;a t&ugrave;y thuộc v&agrave;o khả năng của con người biết học hỏi v&agrave; truyền đạt sự hiểu biết cho những thế hệ kế tiếp&rdquo;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Năm 1952, Alfred Kroeber v&agrave; Clyde Kluckholm bi&ecirc;n soạn v&agrave; đưa ra một danh s&aacute;ch khoảng 164 định nghĩa về &ldquo;văn h&oacute;a&rdquo; trong t&aacute;c phẩm&nbsp;<em>[A. Kroeber &amp; C. Kluckholm, Culture, a critical Review of Concepts and Definition, tr. 357].</em>&nbsp;Tuy nhi&ecirc;n, &ldquo;văn h&oacute;a&rdquo; c&oacute; được hiểu theo ba nghĩa chung nhất như sau:</span></p>

<ul>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Sự cảm thụ v&agrave; hiểu biết về nghệ thuật v&agrave; t&iacute;nh nh&acirc;n văn&nbsp;&nbsp;</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">M&ocirc; h&igrave;nh t&iacute;ch hợp về kiến thức con người, niềm tin v&agrave; h&agrave;nh vi đ&oacute; phụ thuộc v&agrave;o năng lực của tư tưởng mang t&iacute;nh biểu tượng v&agrave; nhận thức của từng x&atilde; hội</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Th&aacute;i độ, c&aacute;c gi&aacute; trị, mục ti&ecirc;u, v&agrave; c&aacute;ch ứng xử, vận dụng&nbsp; l&agrave; n&eacute;t đặc trưng l&agrave; một thể chế, tổ chức hay cộng đồng.&nbsp;</span></li>
</ul>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Từ định nghĩa của văn h&oacute;a như ở tr&ecirc;n cho ch&uacute;ng ta thấy, muốn hiểu văn h&oacute;a của một d&acirc;n tộc phải tham khảo v&agrave; nghi&ecirc;n cứu lịch sử của d&acirc;n tộc đ&oacute;. N&oacute;i c&aacute;ch kh&aacute;c, l&agrave; phải đọc lịch sử Ấn Độ mới hiểu được văn h&oacute;a Ấn. Mặc d&ugrave; c&ocirc;ng việc nghi&ecirc;n cứu, tham khảo, ph&acirc;n t&iacute;ch, bi&ecirc;n soạn&hellip; lịch sử để phản ảnh cho đ&uacute;ng với những g&igrave; đ&atilde; x&atilde;y ra l&agrave; lĩnh vực đ&ograve;i hỏi chuy&ecirc;n m&ocirc;n, đạo đức v&agrave; lương t&acirc;m nghề nghiệp của c&aacute;c nh&agrave; nghi&ecirc;n cứu v&agrave; c&aacute;c sử gia. Trong b&agrave;i viết ngắn n&agrave;y, người viết cũng chỉ mong rằng với sự hiểu biết c&oacute; hạn của m&igrave;nh, đem đến cho đọc giả những &yacute; tưởng về một nền văn h&oacute;a cổ xưa của nh&acirc;n loại n&oacute;i chung v&agrave; người Ấn n&oacute;i ri&ecirc;ng.</span></p>

<p style="text-align:justify"><img alt="" class="img-center" src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/uploads/fos/news/2016_03/rig-vedic-civilzation.jpg" /></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Gọi l&agrave; thời kỳ Văn h&oacute;a Rig Veda (hay c&ograve;n gọi l&agrave; tiền -Veda, v&agrave;o&nbsp;khoảng 1600 TCN đến 1000 TCN) v&agrave; thời kỳ Hậu Veda hay Sử thi hay thời đại &ldquo;anh h&ugrave;ng&rdquo; (khoảng từ 1000 TCN đến 600 TCN) v&igrave; to&agrave;n bộ sinh hoạt, phong tục, tập qu&aacute;n tư tưởng của người Ấn Độ cổ đại đều được thể hiện trong kinh V&ecirc;đa v&agrave; hai bộ sử thi Mahabharata v&agrave; Ramayana. V&agrave; đ&acirc;y cũng l&agrave; thời kỳ người Arya x&acirc;m nhập v&agrave;o Ấn Độ. V&agrave;o khoảng thế kỷ 16 TCN, c&aacute;c bộ lạc du mục của người Arya từ Trung &Aacute; x&acirc;m nhập v&agrave;o Ấn Độ, đem theo những phong tục, tập qu&aacute;n, t&iacute;n ngưỡng&hellip;v&agrave; bắt người bản xứ l&agrave;m n&ocirc; lệ. Đ&acirc;y l&agrave; thời kỳ h&igrave;nh th&agrave;nh c&aacute;c quốc gia chiếm hữu n&ocirc; lệ đầu ti&ecirc;n của người Arya tr&ecirc;n lưu vực s&ocirc;ng Hằng v&agrave; s&ocirc;ng Ấn.<em>[Trong b&agrave;i viết n&agrave;y, người viết kh&ocirc;ng đi s&acirc;u v&agrave;o t&igrave;m hiểu nguồn gốc của người Arya v&agrave; sự tr&agrave;n v&agrave;o Ấn Độ của họ]</em></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em><strong>Văn h&oacute;a Veda được chia th&agrave;nh 2 giai đoạn:</strong></em></span></p>

<ol>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Giai đoạn tiền Veda (Rig Vedic Age) 1600 &ndash; 1000 TCN</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Giai đoạn hậu Veda (Later Vedic Age) 1000 &ndash; 600 TCN</span></li>
</ol>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>I.&nbsp;&nbsp;&nbsp; GIAI ĐOẠN TIỀN VEDA (1600 &ndash; 1000 TCN)</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em><strong>1.&nbsp;&nbsp;&nbsp; Sử liệu thời kỳ văn h&oacute;a Veda&nbsp;</strong></em></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>Kinh Veda</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Khi người Aryan v&agrave;o đất Ấn, phần kinh Veda được họ mang theo chỉ l&agrave; những c&acirc;u thơ theo truyền thống thi ca ở Ba Tư. Tới khoảng năm 1.200, một số nh&oacute;m tư tế Aryan mới phối hợp với c&aacute;c nghi thức v&agrave; kinh lễ bản địa, san định để ghi nhớ v&agrave; sử dụng trong c&aacute;c cuộc c&uacute;ng tế. Tới năm 800 TCN, những tụng thi ấy được gom th&agrave;nh bốn cuốn kinh m&agrave; ng&agrave;y nay được biết tới l&agrave; c&aacute;c kinh Veda. Danh xưng ấy c&ograve;n được phi&ecirc;n &acirc;m l&agrave; Vệ &ETH;&agrave; hay Phệ &ETH;&agrave;. Như thế, Veda chứa đựng sự gặp gỡ một số văn hiến ở T&acirc;y Bắc Ấn &ETH;ộ. Văn tự được d&ugrave;ng để ghi th&agrave;nh kinh l&agrave; Sanskrit, một ng&ocirc;n ngữ thuộc nh&oacute;m Ấn &Acirc;u.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Kinh Veda được xem l&agrave; kinh th&aacute;nh của Hindu gi&aacute;o, d&ugrave;ng l&agrave;m căn bản định chuẩn cho triết học Ấn &ETH;ộ. Những g&igrave; ph&ugrave; hợp với kinh ấy th&igrave; được đ&aacute;nh gi&aacute; l&agrave; ch&iacute;nh thống, v&agrave; kh&ocirc;ng ph&ugrave; hợp th&igrave; bị cho l&agrave; phi ch&iacute;nh thống. Chữ Veda c&oacute; nghĩa l&agrave; &lsquo;biết&rsquo;, &lsquo;minh triết&rsquo;. Người Trung Hoa dịch l&agrave; Minh luận. C&aacute;c cuốn kinh Veda gồm khoảng 10.000 c&acirc;u thơ xu&ocirc;i. Tuy kh&ocirc;ng được sắp xếp ph&acirc;n minh, nhưng kinh Veda, ngo&agrave;i gi&aacute; trị s&aacute;ch thi&ecirc;ng li&ecirc;ng, c&ograve;n l&agrave; đại t&aacute;c phẩm ti&ecirc;u biểu cho một nền văn học.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em><strong>Bốn bộ kinh Veda gồm:</strong></em></span></p>

<ol>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Rig Veda. T&aacute;n tụng minh luận. Cuốn quan trọng nhất, cung cấp hầu hết những giảng huấn cốt tủy. N&oacute; l&agrave; bộ xưa nhất trong bốn bộ &mdash; kết tập khoảng năm 1.200 TCN. Những vị thần được ca tụng nhiều nhất l&agrave; Indra, Varuna v&agrave; Agni.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Sama Veda. Ca vịnh minh luận. Bao gồm c&aacute;c giai điệu v&agrave; c&aacute;c th&aacute;nh ca. Gồm 585 khổ thơ, tương ứng với c&aacute;c giai điệu được d&ugrave;ng trong những tụng ca hiến tế.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Yajur Veda. Tế tự minh luận. Cung cấp những chi tiết cần thiết khi thực hiện c&aacute;c lễ tế. L&agrave; một chuỗi c&aacute;c c&ocirc;ng thức h&agrave;m chứa những nghi lễ kh&aacute;c nhau (nghi lễ d&acirc;ng trăng tr&ograve;n, trăng mới, nghi lễ d&acirc;ng c&aacute;c vong nh&acirc;n, d&acirc;ng thần lửa, d&acirc;ng bốn m&ugrave;a..).</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Arthava Veda. Nhương tai minh luận. Bao gồm c&oacute; c&aacute;c thần ch&uacute; v&agrave; b&ugrave;a ch&uacute;. &ETH;&acirc;y c&oacute; thể l&agrave; những sản phẩm gốc bản địa, c&oacute; từ trước khi người Aryan x&acirc;m lăng. triển khai &yacute; nghĩa ba bộ kinh kia &ndash; gồm c&aacute;c b&agrave;i thuyết gi&aacute;o, c&oacute; nội dung thiết thực v&agrave; triết học. C&aacute;c b&agrave;i thuyết gi&aacute;o chứa đựng th&ocirc;ng điệp t&acirc;m linh căn bản của Hindu gi&aacute;o. Atharva V&eacute;da được lấy t&ecirc;n từ c&aacute;c vị tư tế xưa chuy&ecirc;n lo việc c&uacute;ng thần lửa, gọi l&agrave; c&aacute;c Atharvan, gồm những c&acirc;u ph&ugrave; ch&uacute; ma thuật v&agrave; những ph&ugrave; ch&uacute; trừ m&agrave; yểm quỷ.</span></li>
</ol>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em><strong>Mỗi bộ kinh Veda lại được chia l&agrave;m 4 phần:</strong></em></span></p>

<ol>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Mantra tức th&aacute;nh ca.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Brahmana. Phạn ch&iacute;. Gồm những b&agrave;i kinh cầu, thần ch&uacute;, c&aacute;c nghi lễ d&agrave;nh cho giới tư tế. C&oacute; lẽ được kết tập từ năm 800 tới 600 TCN.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Aranyaka. C&aacute;c b&agrave;i d&agrave;nh cho c&aacute;c tu sĩ khổ hạnh. Thời điểm c&oacute; lẽ từ năm 600 TCN.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Upanishad. &Aacute;o nghĩa thư: gồm c&aacute;c b&agrave;i thuyết ph&aacute;p, giải th&iacute;ch triết l&yacute; d&agrave;nh cho c&aacute;c nh&agrave; tư tưởng. Thời điểm c&oacute; lẽ từ năm 600 tới 300 TCN.</span></li>
</ol>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Một b&agrave;i thơ trong Rig-Veda m&agrave; Will Durant cho rằng &lsquo;B&agrave;i thơ hay nhất l&agrave; b&agrave;i Th&aacute;nh ca về sự s&aacute;ng tạo vũ trụ, thật lạ l&ugrave;ng, ch&uacute;ng ta thấy một thuyết phiếm thần tế nhị v&agrave; cả một giọng ho&agrave;i nghi rất t&ocirc;n k&iacute;nh trong bộ Th&aacute;nh kinh cổ nhất của d&acirc;n tộc Ấn Độ đầy l&ograve;ng mộ đạo:</span></p>

<p style="text-align:center"><span style="color:#000000"><em>Buổi đ&oacute;, ho&agrave;n to&agrave;n chẳng c&oacute; g&igrave; cả, mặt trời rực rỡ kia kh&ocirc;ng c&oacute;,<br />
M&agrave; v&ograve;m trời l&agrave; c&aacute;i khăn phủ m&ecirc;nh mang kia, cũng kh&ocirc;ng c&oacute;.<br />
Vậy th&igrave; c&aacute;i g&igrave; tr&ugrave;m l&ecirc;n, che phủ, chứa chất vạn vật?<br />
Phải chăng l&agrave; vực nước s&acirc;u thẳm?<br />
Thời đ&oacute; kh&ocirc;ng c&oacute; chết &mdash; vậy m&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; g&igrave; l&agrave; bất tử,<br />
Kh&ocirc;ng ph&acirc;n biệt ng&agrave;y v&agrave; đ&ecirc;m,<br />
C&aacute;i Nhất, c&aacute;i &ETH;ộc Nhất, kh&ocirc;ng c&oacute; hơi m&agrave; tự thở lấy được.<br />
Ngo&agrave;i C&aacute;i đ&oacute; ra kh&ocirc;ng c&oacute; c&aacute;i g&igrave; kh&aacute;c nữa.<br />
Tối tăm, v&agrave; hồi đầu c&aacute;i g&igrave; cũng ch&igrave;m trong cảnh tối tăm m&ugrave; mịt &mdash; như biển cả kh&ocirc;ng &aacute;nh s&aacute;ng &mdash; C&aacute;i mầm khuất trong c&aacute;i vỏ<br />
Bỗng nẩy ra, duy nhất, dưới sức n&oacute;ng nung nấu.<br />
Thế l&agrave; lần đầu ti&ecirc;n, l&ograve;ng thương y&ecirc;u xuất hiện, n&oacute; l&agrave; d&ograve;ng suối mới<br />
Của tinh thần, c&aacute;c thi sĩ suy tư v&agrave; thấy được trong l&ograve;ng m&igrave;nh<br />
Mối li&ecirc;n lạc giữa c&aacute;i kh&ocirc;ng được tạo ra với những vật được tạo ra.<br />
Tia s&aacute;ng đ&oacute; chiếu ra, x&acirc;m chiếm hết, n&oacute; ph&aacute;t xuất từ trời hay từ đất?<br />
Giống đ&atilde; gieo v&agrave; người ta thấy c&aacute;c năng lực cao cả xuất hiện<br />
Ở dưới thấp l&agrave; thi&ecirc;n nhi&ecirc;n, ở tr&ecirc;n cao l&agrave; quyền năng v&agrave; &yacute; lực.<br />
Ai l&agrave; người v&eacute;n được m&agrave;n b&iacute; mật? Ai l&agrave; người cho ta biết<br />
Sự s&aacute;ng tạo mu&ocirc;n vật đ&oacute; từ đ&acirc;u m&agrave; c&oacute;?<br />
Ch&iacute;nh c&aacute;c thần linh cũng chỉ xuất hiện sau n&agrave;y.<br />
Vậy th&igrave; ai l&agrave; người biết được sự s&aacute;ng tạo mầu nhiệm đ&oacute; từ đ&acirc;u m&agrave; c&oacute;?<br />
&ETH;ấng n&agrave;o đ&atilde; g&acirc;y ra sự s&aacute;ng tạo đẹp đẽ đ&oacute;.<br />
L&agrave; do v&ocirc; t&igrave;nh hay hữu &yacute;?<br />
&ETH;ấng Tối Cao tr&ecirc;n tầng trời cao nhất kia<br />
Biết được &mdash; nhưng biết đ&acirc;u chừng, c&oacute; thể ch&iacute;nh Ng&agrave;i cũng kh&ocirc;ng biết nốt.&rdquo;</em></span></p>

<p style="text-align:right"><span style="color:#000000"><em>(B&agrave;i ca S&aacute;ng tạo, Lịch sử văn minh Ấn &ETH;ộ, bản dịch của Nguyễn Hiến L&ecirc; NXB Văn H&oacute;a, năm 1996, tt 58- 59)</em></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>2. Đời sống ch&iacute;nh trị&nbsp;</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Thời kỳ tiền Veda c&ograve;n được gọi l&agrave; Rig Veda. Trong thời gian n&agrave;y, ch&iacute;nh trị được tổ chức dưới h&igrave;nh thức c&aacute;c bộ lạc. Mỗi bộ lạc h&igrave;nh th&agrave;nh một l&atilde;nh địa ri&ecirc;ng biệt. Tổ chức ch&iacute;nh trị nhỏ nhất được h&igrave;nh th&agrave;nh dưới tổ chức gia đ&igrave;nh (Kula). Một số gia đ&igrave;nh th&agrave;nh lập một l&agrave;ng (Grama). Người đứng đầu một l&agrave;ng gọi l&agrave; Gramani. Một nh&oacute;m c&aacute;c l&agrave;ng th&agrave;nh lập một đơn vị lớn hơn được gọi l&agrave; Thị tộc (vis). Người đứng đầu thị tộc gọi l&agrave; Vishpati.&nbsp; Một số thị tộc h&igrave;nh th&agrave;nh bộ lạc (Jana). Người đứng đầu bộ lạc gọi l&agrave; Rajan. Người đứng đầu bộ lạc c&oacute; nhiệm vụ đứng ra bảo vệ người d&acirc;n của m&igrave;nh từ kẻ th&ugrave;, bảo vệ gia s&uacute;c, gia cầm, chiến đấu cũng như cầu nguyện trước thần linh v&agrave; dưới sự hỗ trợ của c&aacute;c Purohita hoặc linh mục, c&aacute;c Senani (chỉ huy qu&acirc;n đội), Sabha v&agrave; Samithi.&nbsp;&nbsp;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">H&igrave;nh th&aacute;i Nh&agrave; nước sơ khai cũng bắt đầu h&igrave;nh th&agrave;nh trong thời kỳ n&agrave;y (the rashtra) được cai trị bởi Rajan (Vua) hay c&ograve;n được xem như l&agrave; Gopa &ndash; Đấng bảo trợ v&agrave; Samrat &ndash; Đấng cai trị tối cao. Nh&agrave; vua cai trị dưới sự ưng thuận v&agrave; đống &yacute; của nh&acirc;n d&acirc;n. Tổ chức ch&iacute;nh trị thời kỳ n&agrave;y cũng đ&atilde; h&igrave;nh th&agrave;nh n&ecirc;n 4 hội đồng l&agrave; Sabha, Samiti, Vidhata v&agrave; Gana trong đ&oacute; phụ nữ chỉ được tham gia v&agrave; hai hội đồng đ&oacute; l&agrave; Sabha v&agrave; Vidhata.&nbsp;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Bộ m&aacute;y h&agrave;nh ch&iacute;nh của người Aryan thời kỳ Rig Veda được cai trị dưới quyền của người đứng đầu thị tộc v&agrave; cũng được gọi l&agrave; Rajan. Mặc d&ugrave;, chức vụ n&agrave;y được trao theo kiểu cha truyền con nối nhưng cũng c&oacute; nhiều nguồn sử liệu ghi lại rằng c&oacute; c&aacute;c cuộc bầu trọn được tổ chức bởi hội đồng thị tộc hay samiti. Nhiều hội đồng thị tộc như&nbsp;<em>sabha, samiti, vidatha</em>, v&agrave;<em>gana&nbsp;</em>đ&atilde; được đề cập trong Rig Veda thực hiện chức năng thảo luận việc qu&acirc;n sự v&agrave; t&ocirc;n gi&aacute;o. Phụ nữ tham dự Sabha v&agrave; vidatha trong thời kỳ Rig Veda. Nhưng dưới g&oacute;c độ ch&iacute;nh trị Sabha v&agrave; Samiti đ&oacute;ng vai tr&ograve; quan trọng.&nbsp;&nbsp;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong những c&ocirc;ng việc cai trị hằng ng&agrave;y, nh&agrave; vua đ&atilde; được sự hỗ trợ của một số&nbsp;ban bệ, hệ thống quan lại&nbsp;được. C&aacute;c ban bệ, quan lại giữ chức vụ quan trọng nhất được gọi&nbsp;<em>purohita</em>. Tiếp đến giao cho&nbsp;<em>Vasishtha&nbsp;</em>v&agrave;&nbsp;<em>Visvamitra&nbsp;</em>nắm c&aacute;c quyền điều h&agrave;nh triều ch&iacute;nh. C&aacute;c vi&ecirc;n chức quan trọng tiếp theo l&agrave;&nbsp;<em>senani</em>. Người đứng đầu c&aacute;c thị tộc nhận được c&aacute;c cống phẩm tự nguyện hay c&ograve;n gọi l&agrave;&nbsp;<em>bali</em>.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong những trường hợp trộm cắp v&agrave; ăn trộm, v&agrave; đặc biệt l&agrave; trộm cắp b&ograve;. Điệp vi&ecirc;n đ&atilde; được cắt cử để theo d&otilde;i c&aacute;c hoạt động phi ph&aacute;p. Quan lại được giao cho chức quản l&yacute; c&aacute;c c&aacute;nh đồng cỏ đ&atilde; được gọi l&agrave; vrajapati. C&aacute;c x&atilde; quan được cắt cử đứng đầu c&aacute;c hộ gia định được gọi l&agrave;&nbsp;<em>Kulapas</em>. Quan lại đứng đầu giải quyết c&aacute;c vụ m&acirc;u thuẫn, tranh gi&agrave;nh của người d&acirc;n được gọi l&agrave;&nbsp;<em>gramanis</em>. Thời kỳ n&agrave;y nh&agrave; vua đ&atilde; kh&ocirc;ng duy tr&igrave; bất kỳ qu&acirc;n đội thường trực hay bộ binh, nhưng trong thời gian chiến tranh &ocirc;ng tập trung tiền một lực lượng d&acirc;n qu&acirc;n c&oacute; chức năng được thực hiện bởi c&aacute;c nh&oacute;m kh&aacute;c nhau của bộ lạc gọi l&agrave;&nbsp;<em>vrata, Gana, grama, sardha.</em></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em><strong>Ch&iacute;nh s&aacute;ch thị tộc&nbsp;</strong></em></span></p>

<ol>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Tộc trưởng l&agrave; người đứng đầu v&agrave; bảo vệ cho một thị tộc&nbsp; hay&nbsp;<em>Jana</em></span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Tuy nhi&ecirc;n, tộc trưởng kh&ocirc;ng nắm hết to&agrave;n bộ quyền lực m&agrave; phải c&oacute; sự can thiệp của Hội đồng thị tộc,&nbsp;&nbsp;</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em>Sabha, Samiti, Vidhata v&agrave; Gana&nbsp;</em>l&agrave; c&aacute;c tổ chức trong Hội đồng thị tộc. Trong hội đồng thị tộc n&agrave;y Vidhata l&agrave; tổ chức h&agrave;nh ch&iacute;nh ra đời sớm nhất. Hội đồng thị tộc c&oacute; nhiệm vụ b&agrave;n luận việc qu&acirc;n cơ v&agrave; t&ocirc;n gi&aacute;o.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Hai hội đồng quan trọng nhất trong thị tộc l&agrave;&nbsp;<em>Sabha&nbsp;</em>v&agrave;&nbsp;<em>Samiti. Samiti</em>&nbsp;c&oacute; chức năng cai quản những việc chung, c&ograve;n Sabha cai trị những việc hệ trọng của thị tộc.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Phụ nữ c&oacute; thể tham dự&nbsp;<em>Sabha&nbsp;</em>v&agrave;&nbsp;<em>Vidhata&nbsp;</em>ở thời kỳ Rig Vedic.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Ở một số thị tộc phi qu&acirc;n chủ &ndash;&nbsp;<em>ganas, Ganapati&nbsp;</em>hay&nbsp;<em>Jyestha</em>đứng đầu cai trị.</span></li>
</ol>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>3. X&atilde; hội&nbsp;</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong giai đoạn Rig Veda, gia đ&igrave;nh l&agrave; nền tảng của x&atilde; hội. X&atilde; hội Aryan l&agrave; x&atilde; hội mang bản chất gia trưởng. Cha l&agrave; người đứng đầu gia đ&igrave;nh v&agrave; được gọi l&agrave; Grahapathi. Kinh Veda nhấn mạnh về sự thi&ecirc;ng li&ecirc;ng trong h&ocirc;n nh&acirc;n v&agrave; cuộc sống gia đ&igrave;nh. Cũng trong thời kỳ tiền Veda n&agrave;y nhiều thay đổi x&atilde; hội diễn ra. Kh&aacute;i niệm về&nbsp;<em>Varna</em>, c&ugrave;ng với c&aacute;c quy tắc của h&ocirc;n nh&acirc;n được quan niệm kh&aacute; gay gắt. Sự ph&acirc;n tầng x&atilde; hội cũng đ&atilde; diễn ra, Việc ph&acirc;n tầng x&atilde; hội ra th&agrave;nh c&aacute;c Varna cũng bắt đầu xuất hiện. Tầng lớp B&agrave; La M&ocirc;n v&agrave; Kshatriya được coi l&agrave; cao hơn so với tầng lớp Shudras v&agrave; Vaisyas. Tr&acirc;u b&ograve; cũng bắt đầu mang &yacute; nghĩa t&ocirc;n gi&aacute;o. Tầm quan trọng của n&ocirc;ng nghiệp bắt đầu được đề cao. C&aacute;c gia đ&igrave;nh theo chế độ phụ hệ v&agrave; bắt đầu cầu nguyện cho sự ra đời của con trai. Quan hệ họ h&agrave;ng l&agrave; cơ sở của cấu tr&uacute;c x&atilde; hội. Mọi người d&acirc;n đều phải tỏ l&ograve;ng trung th&agrave;nh của ch&iacute;nh của m&igrave;nh đối với bộ lạc của m&igrave;nh c&aacute;c bộ lạc hay Jana. Cũng c&oacute; từ kh&aacute;c được d&ugrave;ng để chỉ bộ lạ được ghi trong Rig Veda l&agrave; vis. Cũng c&oacute; thể vis được chia th&agrave;nh c&aacute;c grama hoặc tổ chức bộ lạc nhỏ hơn nữa trong khi c&oacute; chiến tranh giữa c&aacute;c bộ tộc. Khi c&aacute;c gramas đụng độ với nhau, n&oacute; g&acirc;y ra chiến tranh&nbsp; hay samgrama. Thuật ngữ chỉ gia đ&igrave;nh &ndash; Kula hiếm khi được đề cập trong Rig Veda. Trong thời kỳ n&agrave;y, thuật ngữ gia đ&igrave;nh được sử dụng nhiều l&agrave; griha. Sự kh&aacute;c biệt trong mối quan hệ gia đ&igrave;nh dẫn đến việc th&agrave;nh lập c&aacute;c hộ gia đ&igrave;nh ri&ecirc;ng.&nbsp;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Vị tr&iacute; của phụ nữ: Việc tổ chức c&aacute;c cuộc h&ocirc;n nh&acirc;n được diễn ra nhưng dưới h&igrave;nh thức c&ograve;n đơn giản. Việc t&aacute;i h&ocirc;n đối v&agrave; cưới hỏi lần nữa đối g&oacute;a phụ cũng được thực hiện trong Rig Veda. Phụ nữ thời kỳ n&agrave;y c&oacute; vai tr&ograve; kh&aacute; b&igrave;nh đẳng với nam giới v&agrave; họ c&oacute; quyền nhận được Upanayana v&agrave; gi&aacute;o dục, nghi&ecirc;n cứu kinh Veda v&agrave; một số người trong số họ thậm ch&iacute; c&ograve;n tăng l&ecirc;n đến cấp bậc của c&aacute;c thi nh&acirc;n s&aacute;ng t&aacute;c b&agrave;i th&aacute;nh ca Veda. Chế độ một vợ một chồng được th&agrave;nh lập, mặc d&ugrave; chế độ đa th&ecirc; v&agrave; đa phu cũng được biết đến. C&oacute; Phụ nữ chiếm một vị tr&iacute; đ&aacute;ng nể trong x&atilde; hội. Họ c&oacute; quyền tự do để chọn chồng. Người vợ l&agrave; người nội trợ trong nh&agrave;. Cũng c&oacute; khi họ được tham gia v&agrave;o c&aacute;c cuộc họp c&ocirc;ng cộng. C&oacute; những phụ nữ đ&atilde; trở th&agrave;nh những học giả như Lopamudra, Visvavara, Ghosha, Sikata, Nivavari v&agrave; Apala. Tuy nhi&ecirc;n, đến thời kỳ hậu Veda, vị tr&iacute; của họ lại bị thay đổi.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>4. Kinh tế&nbsp;</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Đời sống kinh tế thời kỳ Rig Veda vẫn chủ yếu dựa v&agrave;o săn bắn. C&aacute;c lo&agrave;i như B&ograve;, ngựa, cừu, d&ecirc;, lừa v&agrave; ch&oacute; được nu&ocirc;i dưỡng. Người d&acirc;n đ&atilde; định cư ở những nơi v&agrave; x&aacute;c định n&ocirc;ng nghiệp trở th&agrave;nh nghề ch&iacute;nh của họ. B&ecirc;n cạnh đ&oacute;, người d&acirc;n ph&aacute;t triển nghệ thuật của nghề dệt, nghề mộc v&agrave; nghề kim loại.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Kinh tế thương mại cũng bắt đầu ph&aacute;t triển th&ocirc;ng qua việc trao đổi h&agrave;ng ho&aacute;. Ngo&agrave;i việc trao đổi bu&ocirc;n b&aacute;n trong nước, quan hệ ngoại thương mại với T&acirc;y &Aacute; v&agrave; Ai Cập đ&atilde; được tiến h&agrave;nh. Đồng tiền sử dụng được gọi l&agrave; nishka. C&aacute;c sản phẩm sử dụng cho mục đ&iacute;ch thương mại gồm gỗ đ&agrave;n hương, mỹ phẩm v&agrave; ng&agrave; voi v&agrave; cũng l&agrave; l&agrave; những mặt h&agrave;ng xuất khẩu. Tr&aacute;i lại, người d&acirc;n Rig Veda nhập khẩu những con ngựa to v&agrave; khỏe từ T&acirc;y &Aacute; v&agrave; Ai Cập.&nbsp;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong nền kinh tế n&ocirc;ng nghiệp, người d&acirc;n đ&atilde; biết sử dụng sức k&eacute;o của tr&acirc;u v&agrave; b&ograve; đực. C&ocirc;ng cụ c&agrave;y được gọi l&agrave; Urvara hoặc Kshetra cũng được sử dụng. C&aacute;c nguồn ch&iacute;nh của thủy lợi l&agrave; nước mưa. Ngo&agrave;i ra việc tưới ti&ecirc;u cũng được tưới bằng giếng v&agrave; c&aacute;c k&ecirc;nh rạch nhỏ. Người d&acirc;n thời kỳ n&agrave;y tiến h&agrave;nh trồng một năm hai vụ.&nbsp;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Ngo&agrave;i kinh tế n&ocirc;ng nghiệp v&agrave; trồng trọt, việc chăn nu&ocirc;i gia s&uacute;c cũng đ&oacute;ng vai tr&ograve; quan trọng. Trong Kinh Rig Veda c&oacute; nhắc nhiều đến c&aacute;c loại gia s&uacute;c được chăn nu&ocirc;i. B&ograve; v&agrave; c&aacute;c xe b&ograve; k&eacute;o được xem như l&agrave; biểu tượng của sự gi&agrave;u c&oacute;. Hơn nữa, B&ograve; được xem l&agrave; một động vật linh thi&ecirc;ng v&agrave; được gọi l&agrave; Aghnya hay kh&ocirc;ng được giết. B&ograve; c&ograve;n được sử dụng để vận chuyển h&agrave;ng v&agrave; n&ocirc;ng nghiệp. Người d&acirc;n chăn nu&ocirc;i c&aacute;c loại như cừu, d&ecirc;, b&ograve;, b&ograve; v&agrave; ch&oacute;.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Thợ mộc l&agrave; một nghề quan trọng trong x&atilde; hội Rig Veda. C&aacute;c nghề h&agrave;ng thủ c&ocirc;ng quan trọng kh&aacute;c như thợ cắt t&oacute;c, thợ may, thợ da,thợ r&egrave;n, thợ kim ho&agrave;n hay thợ l&agrave;m gốm v.v. Họ cũng đ&atilde; sản xuất ra c&aacute;c loại gốm sứ như&nbsp;<em>Painted Grey Ware</em>&nbsp;ở ph&iacute;a bắc Ấn Độ. Nội thương v&agrave; ngoại thương đều kh&aacute; ph&aacute;t triển. Việc tr&ocirc;ng coi c&aacute;c hoạt động thương mại hầu hết trong tay của&nbsp;<em>Panis</em>. Thương mại được thực hiện cả bằng đường bộ v&agrave; đường biển. Đa số thương mại đ&atilde; được tiến h&agrave;nh với sự trợ gi&uacute;p của hệ thống trao đổi v&agrave; b&ograve; l&agrave; một đơn vị ti&ecirc;u chuẩn trao đổi. Sau đ&oacute; tiền xu v&agrave;ng v&agrave; nishka gọi l&agrave; bạc,&nbsp;<em>shatamana</em>,&nbsp;<em>rajata&nbsp;</em>v&agrave;&nbsp;<em>raupya&nbsp;</em>được sử dụng l&agrave;m tiền tệ.&nbsp;</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>5. Ẩm thực v&agrave; Giải tr&iacute;</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">C&aacute;c m&oacute;n ăn của người d&acirc;n bao gồm b&aacute;nh l&agrave;m từ l&uacute;a mạch, sữa, c&aacute;c loại tr&aacute;i c&acirc;y, rau v&agrave; thịt. C&aacute;c loại chất k&iacute;ch th&iacute;ch như rượu hay c&ograve;n gọi l&agrave; soma v&agrave; Sura được l&agrave;m từ l&uacute;a mạch hoặc hoa quả được d&acirc;ng l&ecirc;n vị thần v&agrave; sử dụng h&agrave;ng ng&agrave;y. Người d&acirc;n Rig Veda cũng biết c&aacute;c tr&ograve; chơi ti&ecirc;u khiển như đua xe ngựa, săn bắn, đua ngựa, n&eacute;m đĩa, &acirc;m nhạc v&agrave; khi&ecirc;u vũ l&agrave; những tr&ograve; giải tr&iacute; y&ecirc;u th&iacute;ch. C&aacute;c tr&ograve; chơi như đấm quyền anh được biết đến với họ. Họ cũng biết chơi c&aacute;c loại nhạc cụ như đ&agrave;n&nbsp;<em>Veena</em>.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Đ&agrave;n Veena &nbsp;vẫn c&ograve;n được sử dụng cho đến ng&agrave;y nay ở Ấn Độ</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>6. Trang phục v&agrave; c&aacute;c đồ trang điểm</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Nam giới thời kỳ Rig Veda mặc một chiếc &aacute;o được gọi l&agrave;&nbsp;<em>dhoti</em>. Phần ph&iacute;a tr&ecirc;n quấn khăn giống như một chiếc khăn cho&agrave;ng. Họ đội mũ quấn v&ograve;ng lớn ở tr&ecirc;n đầu v&agrave; để r&acirc;u. Phụ nữ mặc&nbsp;<em>vasas&nbsp;</em>(ở ph&iacute;a tr&ecirc;n),&nbsp;<em>nivi&nbsp;</em>(trang phục ph&iacute;a dưới) v&agrave;&nbsp;<em>Athivasas&nbsp;</em>(thắt ngang eo). V&aacute;y được tạo ra từ c&aacute;c b&ocirc;ng v&agrave; len. Cả đ&agrave;n &ocirc;ng v&agrave; phụ nữ mặc c&aacute;c loại đồ trang tr&iacute;, v&ograve;ng đeo tai, d&acirc;y chuyền, v&ograve;ng đeo v&agrave; cặp t&oacute;c được sử dụng. Những chiếc d&eacute;p c&oacute; quai được l&agrave;m bằng da cũng được sử dụng.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>7. T&ocirc;n gi&aacute;o thời kỳ Rig Veda</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em>Ch&acirc;n l&yacute; cao cả nhất l&agrave; ch&acirc;n l&yacute; n&agrave;y: Thượng đế hiện diện ở trong vạn vật. Vạn vật l&agrave; mu&ocirc;n h&igrave;nh vạn trạng của Thượng đế&hellip;&nbsp;Ch&uacute;ng ta cần một t&ocirc;n gi&aacute;o tạo ra những con người cho ra con người.</em></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em>Vivekananda</em></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Nh&agrave; thần học như John Haught v&agrave; John Polkinghome khẳng định:&ldquo;Khoa học v&agrave; t&ocirc;n gi&aacute;o nhắm đến c&aacute;c kh&iacute;a cạnh ri&ecirc;ng rẽ của kinh nghiệm nh&acirc;n loại. Nhiều nh&agrave; khoa học đ&atilde; từng viết những b&agrave;i nghi&ecirc;n cứu h&ugrave;ng hồn về việc l&agrave;m thế n&agrave;o m&agrave; thuyết tiến h&oacute;a sinh vật đ&atilde; l&agrave;m tăng th&ecirc;m chứ kh&ocirc;ng giảm đi đức tin t&ocirc;n gi&aacute;o của m&igrave;nh&rdquo;.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">C&aacute;c kinh Veda dẫn ch&uacute;ng ta h&ograve;a m&igrave;nh v&agrave;o trong một ng&ocirc;i đền thờ c&aacute;c vị thần linh theo t&iacute;n ngưỡng t&ocirc;n gi&aacute;o của người Ấn &ETH;ộ. Theo Will Durant th&igrave; c&aacute;c vị thần đầu ti&ecirc;n trong c&aacute;c kinh Veda l&agrave; sức mạnh thi&ecirc;n nhi&ecirc;n: trời, mặt trời, đất, lửa, &aacute;nh s&aacute;ng, gi&oacute;, nước v&agrave; sinh thực kh&iacute;. Lời cầu nguyện được d&acirc;ng đến c&aacute;c vị thần như thần Agni, Vayu v&agrave;&nbsp;<em>Surya</em>.&nbsp;<em>Agni&nbsp;</em>v&agrave;&nbsp;<em>Varuna&nbsp;</em>đ&atilde; được c&aacute;c vị thần được y&ecirc;u th&iacute;ch nhất. C&aacute;c nghi lễ thờ c&uacute;ng như&nbsp;<em>Yagas&nbsp;</em>v&agrave;<em>Yajnas&nbsp;</em>l&agrave; những nghi thức phổ biến nhất.&nbsp; C&aacute;c vị thần được thờ c&uacute;ng dưới dạng kh&ocirc;ng c&oacute; h&igrave;nh dạng x&aacute;c định, kh&ocirc;ng c&oacute; bức tượng v&agrave; thậm ch&iacute; cả ng&ocirc;i đền. Rishis, l&agrave; những bậc thầy tu người soạn c&aacute;c b&agrave;i th&aacute;nh ca trong Rig Veda thi&ecirc;ng li&ecirc;ng. C&aacute;c buổi lễ hiến sinh v&agrave; tụng kinh l&agrave; h&igrave;nh thức phổ biến trong c&aacute;c nghi lễ t&ocirc;n gi&aacute;o thời kỳ n&agrave;y. C&aacute;c vị thần ch&iacute;nh l&agrave; Indra,&nbsp;<em>Agni</em>(ngọn lửa), v&agrave; thần&nbsp;<em>Soma</em>. B&ecirc;n cạnh đ&oacute; c&aacute;c vị thần như&nbsp;<em>Mitra</em>&ndash;<em>Varuna</em>,<em>Surya&nbsp;</em>(Sun),&nbsp;<em>Vayu&nbsp;</em>(gi&oacute;),&nbsp;<em>Usha&nbsp;</em>(b&igrave;nh minh),&nbsp;<em>Prithvi&nbsp;</em>(Thần tr&aacute;i đất) v&agrave;&nbsp;<em>Aditi</em>(mẹ của c&aacute;c vị thần) cũng được thờ phụng. Yoga v&agrave; Vedanta dần dần trở th&agrave;nh yếu tố cơ bản của t&ocirc;n gi&aacute;o. Thần Dyaus (tức như thần Zeus của Hi Lạp v&agrave; thần Jupiter của La M&atilde;), mới đầu ch&iacute;nh l&agrave; ba tầng trời, v&agrave; tiếng Sanskrit, deva (nguồn gốc của tiếng Anh divine: thi&ecirc;ng li&ecirc;ng) ban đầu chỉ c&oacute; nghĩa l&agrave; rực rỡ. Rồi người ta nh&acirc;n c&aacute;ch h&oacute;a những c&aacute;i đ&oacute; cho c&oacute; thi vị m&agrave; tạo ra v&ocirc; số thần: chẳng hạn trời th&agrave;nh cha,&nbsp;<em>Varuna</em>; đất th&agrave;nh mẹ,<em>Prthivi</em>; trời đất giao hoan với nhau sinh ra m&acirc;y mưa, nhờ m&acirc;y mưa m&agrave; c&oacute; thảo mộc. Ch&iacute;nh mưa cũng l&agrave; một vị thần, Parjanya. Agni l&agrave; thần lửa. Vayu l&agrave; thần gi&oacute;. Rudid l&agrave; thần gi&oacute; độc g&acirc;y ra c&aacute;c bệnh dịch .&nbsp;<em>Indra&nbsp;</em>l&agrave; thần d&ocirc;ng tố.&nbsp;<em>Ushas&nbsp;</em>l&agrave; thần rạng động.&nbsp;<em>Sita&nbsp;</em>l&agrave; thần luống c&agrave;y.&nbsp;<em>Suria, Mithra</em>hoặc&nbsp;<em>Visnu&nbsp;</em>đều l&agrave; thần mặt trời.&nbsp;<em>Soma&nbsp;</em>l&agrave; thần rượu, v.v.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Tầm quan trọng của c&aacute;c vị thần thay đổi theo thời gian. Dường như vai tr&ograve; của mưa trong n&ocirc;ng nghiệp biến&nbsp;<em>Indra&nbsp;</em>th&agrave;nh vị thần quan trọng nhất, căn cứ v&agrave;o số lượng tụng ca h&aacute;t d&acirc;ng l&ecirc;n thần ấy.&nbsp;<em>Agni&nbsp;</em>kh&ocirc;ng k&eacute;m phần quan trọng v&igrave; l&agrave; ngọn lửa tế lễ v&agrave; vũ trụ ấm &aacute;p. Soma cũng thế, v&igrave; biểu hiệu cho rượu ch&egrave; say sưa trong c&aacute;c nghi lễ c&uacute;ng tế.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Như thế, trong c&aacute;c kinh Veda, những &yacute; tưởng c&oacute; t&iacute;nh vũ trụ v&agrave; thế giới của c&aacute;c thần linh được thể hiện theo kh&iacute;a cạnh huyền thoại chứ kh&ocirc;ng mang t&iacute;nh triết học. Nguồn gốc của thế giới được xem như một quả trứng, nổi bồng bềnh tr&ecirc;n biển cả hỗn độn, hoặc bằng một h&igrave;nh ảnh nổi tiếng nhất như trong lễ tế thần ng&atilde; vũ trụ (<em>purusa</em>).</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>GIAI ĐOẠN HẬU VEDA (1000 &ndash; 600 TCN)</strong></span></p>

<blockquote>
<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Q&uacute;a tr&igrave;nh chuyển từ giai đoạn Rig Veda sang giai đoạn hậu kỳ Veda được đ&aacute;nh dấu bởi việc xem n&ocirc;ng nghiệp l&agrave; hoạt động kinh tế ch&iacute;nh v&agrave; suy giảm trong chăn nu&ocirc;i gia s&uacute;c. B&ecirc;n cạnh đ&oacute;, c&ograve;n nhiều yếu tố t&aacute;c động đến qu&aacute; tr&igrave;nh chuyển đổi n&agrave;y. V&iacute; dụ, nhiều vương quốc lớn ra đời do tầm quan trọng ng&agrave;y c&agrave;ng tăng của đất đai v&agrave; giao lưu thương mại. Thời kỳ hậu Veda, từ khoảng. 500 TCN trở đi, đ&atilde; c&oacute; nhiều &iacute;t nhiều những kết nối lịch sử với c&aacute;c Nh&agrave; nước Trung cổ của Ấn Độ qua nhiều nguồn sử liệu.</span></p>
</blockquote>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>1. Sử liệu&nbsp;</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Bộ kinh Upanishad: &lsquo;Upanishad&rsquo; &ndash; thường được dịch l&agrave; &Aacute;o nghĩa thư: cuốn s&aacute;ch chan chứa những &yacute; nghĩa uy&ecirc;n th&acirc;m &ndash; c&oacute; lẽ c&oacute; nguồn gốc từ ba chữ &lsquo;upa-ni-shad&rsquo;, nghĩa l&agrave; &lsquo;ngồi gần&rsquo; hoặc &lsquo;ngồi dưới ch&acirc;n thầy&rsquo;. Cụm từ Upanishad c&oacute; &yacute; n&oacute;i tới những lời của một t&ocirc;n sư giảng cho đệ tử ngồi gần &ocirc;ng nhất. N&oacute;i c&aacute;ch kh&aacute;c, s&aacute;ch d&agrave;nh cho đối tượng l&agrave; kẻ được khai t&acirc;m điểm đạo hơn cho đại ch&uacute;ng.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">C&aacute;c Upanishad ch&iacute;nh gồm 13 bộ nhưng thường người ta chỉ n&oacute;i tới mười bộ, gọi l&agrave; thập kinh. Ba vấn đề triết học căn bản trong đ&oacute; l&agrave;:</span></p>

<ol>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Advaita: Phi nhị nguy&ecirc;n. Linh hồn c&aacute; nh&acirc;n, hay tiểu ng&atilde; atman đồng nhất với linh hồn vũ trụ, hay đại ng&atilde; Brahman.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Samsara: Lu&acirc;n hồi. Linh hồn bị giam h&atilde;m trong chu kỳ tử sinh đầy khổ n&atilde;o v&agrave; bất tận.</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Moksa: Giải tho&aacute;t. Linh hồn được tho&aacute;t ra khỏi c&otilde;i hữu hạn bằng &yacute; thức đồng nhất t&iacute;nh của n&oacute; với đại vũ trụ. Trong trạng th&aacute;i hiệp nhất ấy, con người kh&ocirc;ng c&ograve;n khổ n&atilde;o.</span></li>
</ol>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong khi c&aacute;c Upanishads sớm sủa nhất đi c&ugrave;ng một kiểu c&aacute;ch với c&aacute;c Brahmana, th&igrave; theo với thời gian, c&agrave;ng về sau c&aacute;c Upanishad c&agrave;ng &iacute;t phản &aacute;nh văn chương Veda trước đ&oacute;, v&agrave; đồng thời, sức mạnh thi&ecirc;ng li&ecirc;ng của lễ tế cũng c&agrave;ng l&uacute;c c&agrave;ng được xem như l&agrave; sức mạnh nằm b&ecirc;n trong v&agrave; ở đằng sau to&agrave;n thể vũ trụ.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong Chandogya Upanishad (5:3-10) ch&uacute;ng ta c&oacute; &yacute; tưởng về sự t&aacute;i sinh bị t&ugrave;y thuộc v&agrave;o c&aacute;c h&agrave;nh động (karma), v&agrave; sự m&ocirc; tả atman như một bản ng&atilde; c&aacute; thể t&aacute;ch biệt. Chandogya Upanishad cũng bao gồm c&acirc;u chuyện về ch&agrave;ng thanh ni&ecirc;n Cvetaketu v&acirc;ng lời cha bửa hạt vả ra để thấy tận t&acirc;m điểm l&agrave; &lsquo;kh&ocirc;ng c&oacute; g&igrave;&rsquo;, v&agrave; đ&oacute; ch&iacute;nh l&agrave; TAT TVAM ASI.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">C&oacute; thể cho rằng c&aacute;c Upanishad tr&igrave;nh b&agrave;y những lời giảng c&oacute; trước ch&uacute;ng bằng h&igrave;nh thức triết học mang t&iacute;nh nhất nguy&ecirc;n luận. N&oacute;i c&aacute;ch kh&aacute;c, ch&uacute;ng lập luận rằng c&oacute; một thực tại duy nhất m&agrave; mọi sự t&ugrave;y thuộc v&agrave;o n&oacute;.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Vẻ ngo&agrave;i của trạng th&aacute;i t&aacute;ch biệt ri&ecirc;ng rẻ &ndash; th&iacute; dụ giữa bản ng&atilde; c&aacute; thể: atman, v&agrave; thực tại tối hậu: Brahman &ndash; chỉ đơn thuần l&agrave; ảo gi&aacute;c; ch&acirc;n l&yacute; tối hậu l&agrave;: ch&uacute;ng l&agrave; một v&agrave; chỉ một th&ocirc;i.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Tuy nhi&ecirc;n, những am hiểu h&ocirc;m nay của ch&uacute;ng ta về c&aacute;c Upanishads c&oacute; lẽ bị ảnh hưởng của lối tr&igrave;nh b&agrave;y ch&uacute;ng, mang t&iacute;nh triết học về sau, đặc biệt của triết gia Sankara Carya, người khởi xướng triết hệ Vedanta.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>Hai bộ sử thi</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Tư tưởng Ấn &ETH;ộ lập th&agrave;nh sự ph&acirc;n biệt giữa những c&aacute;i được biết tới như l&agrave; lắng nghe (shruti), vốn &aacute;p dụng cho c&aacute;c kinh Veda với h&agrave;m &yacute; ch&uacute;ng l&agrave; ch&acirc;n l&yacute; vĩnh hằng, v&agrave; những c&aacute;i được biết tới như l&agrave; ghi nhớ (smriti), vốn c&oacute; thể sử dụng loại h&igrave;nh văn chương nhưng kh&ocirc;ng c&oacute; địa vị ch&acirc;n l&yacute; vĩnh hằng ấy. Trong số c&aacute;c t&aacute;c phẩm văn chương thuộc những c&aacute;i &lsquo;ghi nhớ&rsquo; c&oacute; hai đại t&aacute;c phẩm sử thi. &ETH;&oacute; l&agrave; Ramayana v&agrave; Mahabharata.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em><strong>Ramayana</strong></em>: T&ecirc;n của t&aacute;c phẩm ấy c&oacute; nghĩa l&agrave; &lsquo;cuộc đời của Rama&rsquo;. &ETH;&acirc;y l&agrave; trường ca sử thi đầu ti&ecirc;n trong văn học sanskrit, được coi l&agrave; do th&aacute;nh nh&acirc;n truyền thuyết Vamiki viết. H&igrave;nh thức xưa nhất v&agrave; thuần t&uacute;y nhất của n&oacute; c&oacute; gốc ở Bắc Ấn (thế kỷ 4 TCN) rồi qua nhiều thế kỷ, được sửa chữa nhiều lần ở Bengali.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Ramayana gồm 24 ng&agrave;n c&acirc;u thơ đ&ocirc;i, chia th&agrave;nh bảy quyển (Kanda), m&ocirc; tả cuộc đời gian tru&acirc;n của ho&agrave;ng tử Rama v&agrave; vợ l&agrave; c&ocirc;ng nương Sita với sự bảo hộ của thần khỉ Hanuman; việc Ravana cưới Sita, cuộc chiến tranh chống lại quỉ sứ, sự trở về kinh đ&ocirc; Ayodhya, v&agrave; cuối c&ugrave;ng c&aacute;i chết v&agrave; l&ecirc;n trời của Rama. Nhiều chuyện phi&ecirc;u lưu m&ocirc; tả rất sinh động v&agrave; rộng lớn trong Ramayana cũng như nội dung phi thường của n&oacute; đ&atilde; l&agrave;m t&aacute;c phẩm n&agrave;y, c&ugrave;ng với Mahabharata trở th&agrave;nh nguồn cảm hứng ch&iacute;nh cho văn học Ấn &ETH;ộ.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Cho tới ng&agrave;y nay, tuy kh&ocirc;ng l&agrave; một t&aacute;c phẩm c&oacute; t&iacute;nh triết học, Ramayana vẫn được t&ocirc;n s&ugrave;ng ở Ấn &ETH;ộ v&agrave; một số nước &ETH;&ocirc;ng Nam &Aacute;. Thần khỉ Hanuman th&agrave;nh thần hộ gia. Tại Việt Nam, c&oacute; &iacute;t nhất hai bản dịch t&oacute;m lược t&aacute;c phẩm n&agrave;y, hai vở chuyển thể thoại kịch v&agrave; cải lương. H&igrave;nh tượng Hanuman thường thấy tr&ecirc;n v&aacute;ch c&aacute;c ch&ugrave;a chiền Phật gi&aacute;o Khmer ở nam bộ. Trong một c&acirc;u thơ nhập đề của Ramanaya, người ta đọc thấy: &lsquo;Kẻ n&agrave;o đọc v&agrave; lặp lại s&aacute;ch th&aacute;nh Ramayana, nguồn gốc sự sống, sẽ được giải tho&aacute;t khỏi tội lỗi v&agrave; được l&ecirc;n trời&rsquo;.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><em><strong>Mahabharata:&nbsp;</strong></em>Mahabharata chứa đựng nhiều thứ, trong đ&oacute; c&oacute; t&aacute;c phẩm triết học Bhagavad Gita, với thời điểm s&aacute;ng t&aacute;c c&oacute; lẽ v&agrave;o thế kỷ 2 TCN hoặc sau đ&oacute; một ch&uacute;t. &ETH;&acirc;y l&agrave; t&aacute;c phẩm nổi tiếng nhất trong đại ch&uacute;ng so với mọi t&aacute;c phẩm văn chương của Ấn &ETH;ộ. N&oacute; đ&aacute;nh dấu bước chuyển đổi quan trọng trong qu&aacute; tr&igrave;nh ph&aacute;t triển tư tưởng triết học Ấn &ETH;ộ.</span><br />
<span style="color:#000000">Mahabharata gồm 106.000 c&acirc;u thơ, chia ra th&agrave;nh 18 tập (parva). Người ta thường xem triết gia thần b&iacute; Vyasa l&agrave; t&aacute;c giả của n&oacute;, nhưng thật ra c&oacute; nhiều ngưới bi&ecirc;n tập v&agrave; chữ vyasa theo tiếng sanskrit chỉ c&oacute; nghĩa l&agrave; người xếp loại. S&aacute;ch tập hợp một phần lớn gia t&agrave;i ngụ ng&ocirc;n, cổ t&iacute;ch v&agrave; truyện huyền thoại của Ấn &ETH;ộ.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Chủ đề ch&iacute;nh của Mahabharata l&agrave; cuộc chiến tranh giữa hai họ Bharata th&acirc;n thuộc nhau, trong đ&oacute; họ Kauvara hung &aacute;c v&agrave; họ Pandava đức độ; đối tượng tranh chấp l&agrave; vương quốc do vua m&ugrave; Dhritarashtra chia cho. Phần triết học ch&iacute;nh của t&aacute;c phẩm (tập s&aacute;u) l&agrave; Bhagavad-Gita, sưu tập những lời khuy&ecirc;n của thần Krishna, một hiện th&acirc;n của Visnu v&agrave; l&agrave; người h&oacute;a th&acirc;n l&agrave;m kẻ đ&aacute;nh xe ngựa cho ho&agrave;ng tử Arjuna trước khi &ocirc;ng ho&agrave;ng n&agrave;y ra chiến trường bắt đầu trận đ&aacute;nh k&eacute;o d&agrave;i 18 ng&agrave;y. Trong c&aacute;c lời khuy&ecirc;n ấy, Krishna giải th&iacute;ch rằng bản ng&atilde; atman th&igrave; bất hoại v&agrave; hằng cửu. Do đ&oacute;, Arjuna kh&ocirc;ng sắp giết bản ng&atilde; ch&acirc;n ch&iacute;nh m&agrave; chỉ l&agrave; giết thể x&aacute;c, c&aacute;i tựa như vỏ bọc ở b&ecirc;n ngo&agrave;i.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>Gita&nbsp;</strong>&ndash; tiếng thường d&ugrave;ng để gọi tắt bộ kinh&nbsp;Bhagavad Gita (Ch&iacute; T&ocirc;n ca) &ndash; &nbsp;được xem&nbsp;l&agrave; sản phẩm tinh thần của Ấn Độ bao gồm&nbsp;nhiều lời giảng dạy đương thời của B&agrave; La M&ocirc;n&nbsp;gi&aacute;o v&agrave; nổi bật trong đ&oacute; l&agrave;&nbsp;niềm tin v&agrave;o Thượng đế. Krishna tuy&ecirc;n bố rằng mọi h&agrave;nh động nếu thực hiện với động cơ v&ocirc; ng&atilde; đều trở th&agrave;nh lễ tế, v&agrave; rằng kh&ocirc;ng thể n&agrave;o r&uacute;t lui khỏi thế giới n&agrave;y để chỉ đi theo thi&ecirc;n hướng t&acirc;m linh, c&aacute;ch tốt hơn vẫn l&agrave; trụ lại m&agrave; h&agrave;nh động với cung c&aacute;ch v&ocirc; ng&atilde;. N&oacute;i c&aacute;ch kh&aacute;c, nghiệp của ta t&ugrave;y thuộc v&agrave;o t&iacute;nh ch&iacute;nh đ&aacute;ng của động cơ th&uacute;c đẩy.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Quan điểm ấy trở th&agrave;nh phương c&aacute;ch thứ nhất trong ba phương c&aacute;ch đạt tới giải tho&aacute;t, đ&oacute; l&agrave; phương c&aacute;ch h&agrave;nh động (karmamarga). N&oacute; được tiếp theo bởi phương c&aacute;ch tri thức (jnanamarga), v&agrave; cuối c&ugrave;ng, phương c&aacute;ch tận hiến (bhaktimarga). Ở đ&acirc;y, qu&aacute; tr&igrave;nh chuyển dịch của Ấn gi&aacute;o c&oacute; thể được diễn tả kh&aacute;i qu&aacute;t th&agrave;nh ba nhịp chuyển:</span></p>

<ol>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Tới qu&aacute; b&ecirc;n kia nhu cầu tế lễ được đề cập tới trong c&aacute;c kinh Veda thời sớm sủa nhất</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Để đi tới phương c&aacute;ch tri thức v&agrave; sự hiệp nhất đầy b&iacute; nhiệm do c&aacute;c Upanishads cống hiến,</span></li>
	<li style="text-align:justify"><span style="color:#000000">V&agrave; đi nữa, tới điểm th&agrave;nh tựu giải tho&aacute;t qua sự hiến th&acirc;n cho đấng thần linh tối cao l&agrave; Thượng đế. Sau thời Gita, ta tới thời kỳ Ấn gi&aacute;o cổ điển, được ti&ecirc;u biểu bằng c&aacute;c trường ph&aacute;i triết học vĩ đại. Nhưng điểm cần để &yacute; trước khi đi v&agrave;o c&aacute;c triết hệ ấy l&agrave; ch&uacute;ng kh&ocirc;ng ho&agrave;n to&agrave;n mới mẻ; ch&uacute;ng c&oacute; nguồn gốc từ nội h&agrave;m của những lời giảng dạy trước đ&oacute;</span></li>
</ol>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Như vậy, x&eacute;t về nguồn sử liệu nếu như những kinh V&ecirc;đa v&agrave; t&ocirc;n gi&aacute;o Rig &ndash; V&ecirc;đa tối cổ thể hiện những quan niện hoang sơ của người Ấn Độ cổ về vũ trụ, l&yacute; giải về vẽ uy&ecirc;n nguy&ecirc;n tận c&ugrave;ng của đạo, cố gắn đi t&igrave;m thực chất bản t&iacute;nh con người, chỉ ra con đường giải tho&aacute;t cho cuộc đời&hellip;th&igrave; những t&aacute;c phẩm thời kỳ sau Rigveda c&oacute; gi&aacute; trị như kinh Upanishad, được xem như những th&aacute;nh kinh ghi lại lời dạy của thần linh cho nh&acirc;n gian, hai bộ sử thi đồ sộ Mahabharata v&agrave; Ramayana vừa c&oacute; gi&aacute; trị sử học, văn học, ng&ocirc;n ngữ học, vừa c&oacute; &yacute; nghĩa triết học đạo đức được người Ấn Độ tự h&agrave;o cho rằng &ldquo;C&aacute;i g&igrave; kh&ocirc;ng thấy trong Mahabharata th&igrave; cũng kh&ocirc;ng thấy ở Ấn Độ&rdquo;.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>2. Tổ chức ch&iacute;nh trị</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Đ&atilde; thấy được mầm mống của việc nổi dậy của 16 tiểu vương quốc Mahajanapadas, c&ugrave;ng với sự gia tăng quyền lực trong tay nh&agrave; vua l&agrave; những đặt trưng nổi bật về tổ chức ch&iacute;nh trị thời kỳ n&agrave;y.. C&aacute;c nghi lễ như, (Lễ Ho&agrave;ng gia hiến th&aacute;nh), vajapeya (Đua xe ngựa) v&agrave; ashvamedha (hiến sinh ngựa) trở n&ecirc;n phổ biến. Đồng thời, những người trong ch&iacute;nh quyền bị cắt giảm bớt.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong thời kỳ Hậu Veda, vidatha ho&agrave;n to&agrave;n biến mất. The Sabha v&agrave; Samiti vẫn tiếp tục được giữ lại, vai tr&ograve; của m&igrave;nh lại bị thay đổi. Phụ nữ kh&ocirc;ng c&ograve;n được ph&eacute;p c&oacute; mặt trong Sabha, v&agrave; b&acirc;y giờ n&oacute; đ&atilde; được chi phối bởi tầng lớp qu&yacute; tộc v&agrave; Brahmanas. Việc h&igrave;nh th&agrave;nh của vương quốc rộng lớn hơn đ&atilde; l&agrave;m cho nh&agrave; vua trở n&ecirc;n đầy sức mạnh v&agrave; quyền lực hơn. C&aacute;c thị tộc c&oacute; xu hướng trở th&agrave;nh c&aacute;c v&ugrave;ng l&atilde;nh thổ. Thuật ngữ rashtra chỉ v&ugrave;ng l&atilde;nh thổ, lần đầu ti&ecirc;n xuất hiện trong giai đoạn n&agrave;y. Vua đứng ra thực hiện c&aacute;c lễ hiến sinh &ndash; rajasuya, để được trao quyền lực tối cao cho m&igrave;nh. &Ocirc;ng thực hiện c&aacute;c nghi lễ asvamedha, nhằm kiểm so&aacute;t v&ugrave;ng l&atilde;nh thổ dưới sự cai quản của m&igrave;nh m&agrave; kh&ocirc;ng bị sự cản trở của c&aacute;c thế lực kh&aacute;c. Ngo&agrave;i ra, nh&agrave; vua c&ograve;n đứng ra tổ chức c&aacute;c cuộc đua xe ngựa, trong đ&oacute; chiếc xe ngựa của Vua đ&atilde; được thực hiện để gi&agrave;nh chiến thắng trong cuộc đua để thể hiện sức mạnh v&agrave; tầm ảnh hưởng của m&igrave;nh. Trong thời kỳ n&agrave;y, việc thu c&aacute;c loại thuế v&agrave; cống nạp dưới quyền một vị quan lại do nh&agrave; vua cắt cử ra gọi l&agrave; sangrihitri.</span><br />
<span style="color:#000000">Thậm ch&iacute; trong giai đoạn n&agrave;y, nh&agrave; vua kh&ocirc;ng duy tr&igrave; hệ thống qu&acirc;n đội bộ binh. C&aacute;c bộ lạc vẫn được k&ecirc;u gọi tập hợp trong thời kỳ diễn ra chiến tranh. Một nghi lễ được thực hiện khi nh&agrave; vua chiến thắng l&agrave; nh&agrave; vua c&ugrave;ng c&aacute;c binh l&iacute;nh, thần d&acirc;n c&ugrave;ng ăn chung v&agrave;o một chiếc đĩa.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>3. X&atilde; hội hậu Veda</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Thời kỳ n&agrave;y đ&atilde; xuất hiện chế độ đẳng cấp ( varna &ndash; m&agrave;u sắc, chủng t&iacute;nh) g&oacute;p phần quy định cơ cấu x&atilde; hội v&agrave; ảnh hưởng đến h&igrave;nh th&aacute;i tư tưởng ấn độ cổ đại. Đ&oacute; l&agrave; chế độ x&atilde; hội dựa tr&ecirc;n sự ph&acirc;n biệt về chủng tộc, m&agrave;u da, d&ograve;ng d&otilde;i, nghề nghiệp, t&ocirc;n gi&aacute;o, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ h&ocirc;n nh&acirc;n&hellip;được h&igrave;nh th&agrave;nh trong thời kỳ người Arya chinh phục, thống trị người Dravida, cũng như trong cả qu&aacute; tr&igrave;nh ph&acirc;n h&oacute;a x&atilde; hội ng&agrave;y c&agrave;ng s&acirc;u sắc giữa qu&yacute; tộc v&agrave; thường d&acirc;n Arya. Theo th&aacute;nh điển B&agrave;lam&ocirc;n v&agrave; bộ luật Manu, x&atilde; hội ấn độ cổ đại chia th&agrave;nh bốn đẳng cấp lớn: Đứng đầu l&agrave; đẳng cấp tăng lữ, lễ sư B&agrave;lam&ocirc;n (Brahm&acirc;na); thứ hai l&agrave; đẳng cấp vương c&ocirc;ng, vua ch&uacute;a, tướng lĩnh, v&otilde; sĩ (Kshatriya); thứ ba l&agrave; đẳng cấp thương nh&acirc;n, điền chủ v&agrave; thường d&acirc;n Arya (Vaishya); thứ tư l&agrave; đẳng cấp tiện d&acirc;n v&agrave; n&ocirc; lệ (Shudra). Ngo&agrave;i bốn đẳng cấp tr&ecirc;n c&ograve;n c&oacute; những người bị coi l&agrave; ngo&agrave;i lề đẳng cấp x&atilde; hội.Đ&oacute; l&agrave; tầng lớp người c&ugrave;ng đinh, hạ đẳng (Paria) như người Chandala. Đặc biệt trong x&atilde; hội thời kỳ hậu Veda, kh&aacute;i niệm Varna v&agrave; c&aacute;c quy định về h&ocirc;n nh&acirc;n c&agrave;ng trở n&ecirc;n chặt chẽ hơn giai đoạn trước nhiều. Địa vị của Brahmanas v&agrave; Kshatriyas tăng một c&aacute;ch đ&aacute;ng kể v&agrave; nhiều những gi&aacute;o luật được ban h&agrave;nh trong x&atilde; hội. Đẳng cấp Kshatriyas bắt đầu dần dần t&iacute;ch lũy của cải v&agrave; sử dụng đến vai tr&ograve; của Brahmins. Vai tr&ograve; v&agrave; địa vị của c&aacute;c đẳng cấp kh&aacute;c bị suy giảm.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>4. Kinh tế thời hậu Veda</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Người Arya v&agrave; người Dravida bản xứ đ&atilde; đồng h&oacute;a. Tiếp thu được kỹ thuật v&agrave; văn minh của người Dravida v&agrave; chiếm được những v&ugrave;ng đất đai m&agrave;u mỡ v&agrave; thuận lợi, người Arya bắt đầu chuyển từ chăn nu&ocirc;i, du mục sang đời sống n&ocirc;ng nghiệp định cư, ph&aacute;t triển thủ c&ocirc;ng nghiệp v&agrave; thương nghiệp. Đặc trưng của nền kinh tế n&ocirc;ng nghiệp thời kỳ n&agrave;y l&agrave; kinh tế tiểu n&ocirc;ng kết hợp chặt chẽ với thủ c&ocirc;ng nghiệp gia đ&igrave;nh n&ecirc;n t&iacute;nh chất tự cấp tự t&uacute;c l&agrave; nổi bật v&agrave; quan hệ trao đổi giữa c&aacute;c c&ocirc;ng x&atilde; rất yếu ớt. Đ&oacute; cũng l&agrave; nguy&ecirc;n nh&acirc;n l&agrave;m x&atilde; hội ấn độ ph&aacute;t triển rất chậm chạp v&agrave; tr&igrave; trệ. Kinh tế n&ocirc;ng nghiệp trở th&agrave;nh chủ đạo v&agrave; việc chăn nu&ocirc;i bắt đầu giảm s&uacute;t ở thời kỳ hậu Veda. Đất đại được quản l&yacute; v&agrave; bảo vệ chặt chẽ từ đ&oacute; dẫn đến việc xuất hiện một số l&atilde;nh địa nhỏ.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Người Aryan bắt đầu cuộc sống định cư. C&aacute;c nghề chủ yếu l&agrave; trồng trọt v&agrave; chăn nu&ocirc;i. Tuy việc chăn nu&ocirc;i c&oacute; suy giảm nhưng c&aacute;c loại gia s&uacute;c vẫn được xem như l&agrave; tải sản c&oacute; thể trao đổi bu&ocirc;n b&aacute;n được. Voi đ&atilde; được thuần h&oacute;a. Kh&aacute;i niệm về sở hữu đất đai bắt đầu h&igrave;nh th&agrave;nh. C&aacute;c loại l&uacute;a mỳ được trồng c&ugrave;ng với l&uacute;a mạch. Gạo cũng được n&oacute;i đến nhưng kh&ocirc;ng phải l&agrave; c&acirc;y lương thực chủ đạo giai đoạn n&agrave;y. C&aacute;c loại đậu như Moong, Urad &hellip; cũng được biết đến. Nhiều ng&agrave;nh nghề thủ c&ocirc;ng, mỹ nghệ cũng bắt đầu ra đời như: nghề đ&uacute;c, nghề r&egrave;n, thợ mộc, thợ l&agrave;m da, l&agrave;m đồ trang sức, đồ gốm. Thương mại thời kỳ n&agrave;y cũng kh&aacute; ph&aacute;t triển.</span><br />
<span style="color:#000000">Sản xuất đồ gốm: Người Aryan trong giai đoạn n&agrave;y đ&atilde; biết l&agrave;m c&aacute;c loại đồ gốm c&oacute; mầu đỏ v&agrave; đen, mầu đen kẻ xọc, đồ gốm được trang tr&iacute; mầu x&aacute;m (PGW), v&agrave; mầu đỏ. C&aacute;c loại b&igrave;nh gốm bằng đất nung c&oacute; mầu đen v&agrave; mầu đỏ được sử dụng v&agrave;o khoảng 600 TCN bổi người v&ugrave;ng Koshala.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>5. Triết học v&agrave; T&ocirc;n gi&aacute;o thời kỳ hậu Veda</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">C&oacute; thể n&oacute;i, Thời kỳ V&ecirc;đa cũng l&agrave; thời kỳ h&igrave;nh th&agrave;nh c&aacute;c t&ocirc;n gi&aacute;o lớn m&agrave; tư tưởng v&agrave; t&iacute;n ngưỡng của n&oacute; ảnh hưởng đậm n&eacute;t tới đời sống tinh thần x&atilde; hội ấn độ cổ đại, như đạo Rig &ndash; V&ecirc;đa, đạo B&agrave;lam&ocirc;n về sau gọi l&agrave; Hindu gi&aacute;o, v&agrave; đạo Phật, đao Jaina&hellip;</span><br />
<span style="color:#000000">Thời hậu kỳ Veda, theo Arthava-Veda th&igrave; dường như xuất hiện t&igrave;nh trạng kh&ocirc;ng m&atilde;n nguyện với c&aacute;c h&igrave;nh thức huyền thoại, từ đ&oacute; chuyển tới việc n&oacute;i tới asat (phi hữu thể hoặc phi thực) v&agrave; sat (hữu thể hoặc c&oacute; thực), trong đ&oacute;, con người t&acirc;m linh chuyển dịch mục đ&iacute;ch từ asat tới sat.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Thuật ngữ asat chỉ to&agrave;n bộ l&atilde;nh vực &lsquo;kh&ocirc;ng thể biết được&rsquo;, những g&igrave; nằm b&ecirc;n ngo&agrave;i hữu thể, kh&ocirc;ng thể hiểu được bằng ng&ocirc;n từ v&agrave; tư tưởng, v&agrave; vượt ra khỏi mọi định nghĩa. Về sau, đ&oacute; l&agrave; c&aacute;i &lsquo;Tuyệt đối kh&ocirc;ng&rsquo; mang t&iacute;nh phi nhị nguy&ecirc;n Vedanta. Ngược lại, sat l&agrave; thực thể tuyệt đối, vĩnh cửu v&agrave; thường hằng, đồng nhất với Brahman.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Ch&uacute;ng ta thấy c&oacute; sự chuyển dịch trong c&aacute;c Brahmana (Phạn ch&iacute;), từ c&uacute;ng tế như một phương tiện bảo đảm h&agrave;nh động của thần linh sang tới tập trung v&agrave;o chi tiết của ch&iacute;nh lễ tế. Nghi lễ bắt đầu được xem l&agrave; hiện th&acirc;n của vũ trụ v&agrave; duy tr&igrave; vũ trụ, biểu hiện cho tự th&acirc;n thực tại, v&agrave; thực tại tuyệt đối đ&oacute; ch&iacute;nh l&agrave; Brahman.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trọng t&acirc;m ấy khiến người cử h&agrave;nh nghi lễ &ndash; giới tư tế B&agrave; la m&ocirc;n &ndash; v&agrave; c&aacute;c chi tiết tế lễ trở th&agrave;nh cực kỳ quan trọng. C&aacute;c b&agrave;i ca khổ hạnh Aranyaka ng&agrave;y c&agrave;ng được đưa th&ecirc;m v&agrave;o c&aacute;c Brahmana, v&agrave; như thế, thừa nhận rằng c&oacute; thể lấy nghi thức tinh thần qua trầm tư mặc tưởng thay cho c&aacute;c lễ tế thật sự. Do đ&oacute;, c&oacute; sự triển khai tới c&aacute;c Upanishad, nghĩa l&agrave; chuyển dịch từ việc cử h&agrave;nh lễ tế tới l&atilde;nh vực suy tưởng si&ecirc;u h&igrave;nh v&agrave; trừu tượng.</span><br />
<span style="color:#000000">C&oacute; thể diễn tả một c&aacute;ch giản dị qu&aacute; tr&igrave;nh ấy một c&aacute;ch kh&aacute;c. Rằng c&oacute; sự chuyển dịch từ sự sử dụng &lsquo;ma thuật&rsquo; của lễ tế để ảnh hưởng l&ecirc;n c&aacute;c sức mạnh thi&ecirc;ng li&ecirc;ng qua việc cử h&agrave;nh lễ tế như một h&agrave;nh động ph&ocirc; diễn bản t&iacute;nh của thực tại c&ugrave;ng với &yacute; tưởng cho rằng c&oacute; thể thể hiện lễ tế một c&aacute;ch tinh thần, hướng tới &yacute; tưởng vũ trụ c&oacute; thể được am hiểu một c&aacute;ch l&yacute; t&iacute;nh v&agrave; triết học.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Trong c&aacute;c kinh Veda, việc tế lễ đ&uacute;ng nghi thức được xem l&agrave; h&agrave;nh động giữ cho vũ trụ liền lạc nhau v&agrave; cho n&oacute; một h&igrave;nh thức cấu tr&uacute;c chặt chẽ. H&agrave;nh động ph&aacute;t xuất từ nghi lễ cũng l&agrave; một phương c&aacute;ch cung cấp &yacute; nghĩa. Những g&igrave; diễn ra ở đ&oacute; r&otilde; r&agrave;ng mang t&iacute;nh c&aacute;ch thừa nhận rằng con người c&oacute; nhu cầu định hướng, một phương c&aacute;ch cho rằng bản ng&atilde; c&aacute; nh&acirc;n c&oacute; li&ecirc;n quan tới c&aacute;i to&agrave;n bộ. Lễ tế của tư tế B&agrave; la m&ocirc;n giữ cho thế giới liền lạc nhau, v&igrave; kh&ocirc;ng c&oacute; c&aacute;i nh&igrave;n thi&ecirc;ng li&ecirc;ng v&agrave; ri&ecirc;ng tư th&igrave; thực tại kh&ocirc;ng thể chuyển dịch từ bất định v&agrave; hỗn độn th&agrave;nh một vũ trụ ngăn nắp v&agrave; trật tự.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Như vậy, ch&uacute;ng ta thấy dần dần c&oacute; sự suy tưởng trừu tượng hơn, nghĩa l&agrave; nhường lối cho sự tiếp cận c&oacute; t&iacute;nh &lsquo;triết học&rsquo; hơn. Nhưng c&oacute; lẽ ch&uacute;ng ta n&ecirc;n đặt ra những nghi ngờ về n&oacute;. L&yacute; do v&igrave; một trong những sức mạnh của nghi lễ l&agrave; l&agrave;m cho ch&uacute;ng ta c&oacute; khả năng dự phần đầy x&uacute;c động, v&agrave; những ng&ocirc;n từ c&ugrave;ng cử chỉ trong khi tế lễ cuốn h&uacute;t, l&agrave;m mải m&ecirc; cả t&acirc;m tr&iacute; v&ocirc; thức lẫn t&acirc;m tr&iacute; &yacute; thức. Ch&iacute;nh v&igrave; vậy, việc suy l&yacute; trừu tượng c&oacute; t&iacute;nh triết l&yacute; v&agrave; việc cử chỉ điệu bộ h&agrave;nh lễ v&agrave; sự tham dự v&agrave;o nghi lễ, phương c&aacute;ch n&agrave;o khiến cho con người c&oacute; khả năng nắm bắt tốt nhất cảm gi&aacute;c về &yacute; nghĩa v&agrave; cứu c&aacute;nh. Hơn nữa, bằng chỉ một m&igrave;nh l&yacute; tr&iacute; m&agrave; th&ocirc;i, liệu ch&uacute;ng ta c&oacute; thể nắm bắt được ch&acirc;n l&yacute; tối hậu kh&ocirc;ng? Những vấn đề về triết học v&agrave; t&ocirc;n gi&aacute;o giai đoạn n&agrave;y đặt nền tảng cho hệ tương tưởng triết học v&agrave; t&ocirc;n gi&aacute;o sau n&agrave;y từ khoảng 600 TCN trở lại với sự ra đời của c&aacute;c d&ograve;ng triết học t&ocirc;n gi&aacute;o phi ch&iacute;nh thống đ&oacute; l&agrave; Phật gi&aacute;o v&agrave; Jain gi&aacute;o.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000"><strong>6. T&ocirc;n gi&aacute;o</strong></span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Với những hiện tượng tự nhi&ecirc;n v&agrave; x&atilde; hội ẩn dấu những điếu b&iacute; ẩn, kỳ diệu, mạnh mẽ, vốn l&agrave; c&aacute;i n&ocirc;i sinh trưởng, tồn tại của con người nhưng lại lu&ocirc;n g&acirc;y ra cho đời sống con người biết bao những tai họa, bất trắc kh&ocirc;n lường, từ đ&oacute; người Ấn Độ đ&atilde; s&aacute;ng tạo n&ecirc;n một thế giới c&aacute;c vị thần c&oacute; t&iacute;nh chất tự nhi&ecirc;n để giải th&iacute;ch c&aacute;c hiện tượng phong ph&uacute;, phức tạp của hiện thực. C&aacute;c vị th&agrave;nh đầu ti&ecirc;n xuất hiện trong c&aacute;c kinh V&ecirc;đa đều tượng trưng cho sức mạnh của c&aacute;c lực lượng, c&aacute;c sự vật tự nhi&ecirc;n m&agrave; người Ấn Độ thờ phụng như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, v&ograve;m trời, tinh t&uacute;, lửa, &aacute;nh s&aacute;nh, gi&oacute;, mưa, rạng đ&ocirc;ng v&agrave; cả sinh thực kh&iacute;. Về sau, người Ấn Độ lại s&aacute;ng tạo ra biểu tượng c&aacute;c vị thần mới để l&yacute; giải c&aacute;c hiện tượng trong lĩnh vực đạo đức, lu&acirc;n l&yacute; x&atilde; hội, như thần &aacute;c, thần thiện, ph&aacute;p thần, thần c&ocirc;ng l&yacute;. Người Ấn Độ cổ tin v&agrave; giải th&iacute;ch rằng trong vũ trụ n&agrave;y đồng thời tồn tại ba thế lực c&oacute; li&ecirc;n quan với nhau l&agrave; thần linh, con người v&agrave; quỷ &aacute;c, ứng với ba c&otilde;i của vũ trụ bao la l&agrave; thi&ecirc;n giới, trần thế v&agrave; địa ngục. Họ đ&atilde; ph&acirc;n t&iacute;ch c&aacute;c hiện tượng tự nhi&ecirc;n v&agrave; l&yacute; giải ch&uacute;ng qua biểu tượng của thế giới thần linh phong ph&uacute;, hiện diện ở khắp mọi nơi v&agrave; khắp mọi thời, chia nhau chi phối sự biến h&oacute;a của vũ trụ vạn vật theo sự điều khiển của nguy&ecirc;n l&yacute; rita [rita nghĩa đen l&agrave; ch&acirc;n x&aacute;c, th&iacute;ch hợp, trật tự vận h&agrave;nh vũ trụ]. V&igrave; thế kinh Rig &ndash; Veda viết: &ldquo;To&agrave;n thể vũ trụ được th&agrave;nh lập tr&ecirc;n nguy&ecirc;n l&yacute; rita v&agrave; vận h&agrave;nh trong đ&oacute;&rdquo; ( Rig &ndash; Veda, I, 156, 3). Họ say m&ecirc; gửi gắm t&acirc;m hồn, cuộc sống tự nhi&ecirc;n của m&igrave;nh v&agrave;o thế giới của c&aacute;c vị thần linh ấy. Do vậy, họ rất s&ugrave;ng thượng t&iacute;n ngưỡng, cầu nguyện v&agrave; hiến tế. Bất cứ việc g&igrave; đối với bản th&acirc;n, gia đ&igrave;nh v&agrave; bộ tộc, họ đều cầu khẩn chư thần, với c&aacute;c mục đ&iacute;ch r&otilde; rệt. Chẳng hạn, l&agrave;m lễ cầu nguyện khi cưới vợ, lễ ch&uacute;c ph&uacute;c khi sinh con, lễ cầu nguyện cho gia đ&igrave;nh an vui, cho đ&agrave;n gia s&uacute;c kh&ocirc;ng bị dịch bệnh v&agrave; sinh đẻ nhiều, lễ cầu cho mưa thuận gi&oacute; h&ograve;a, m&ugrave;a m&agrave;ng bội thu, lễ cầu nguyện để được khỏe mạnh sống l&acirc;u,&hellip;Họ c&uacute;ng tế kh&ocirc;ng phải chỉ l&agrave; sự m&ecirc; t&iacute;n m&agrave; đ&oacute; ch&iacute;nh l&agrave; l&ograve;ng tin, niềm say m&ecirc; cuộc sống hồn nhi&ecirc;n v&agrave; sự khẳng định cuộc sống, lẽ sống của m&igrave;nh, Do đ&oacute;, họ cho rằng đem l&ograve;ng th&agrave;nh k&iacute;nh của m&igrave;nh để tụng niệm trước thần linh l&agrave; bổn phận v&agrave; hạnh ph&uacute;c của con người. C&aacute;c thần linh trong kinh V&ecirc;đa ngụ ở khắp ba c&otilde;i: đất hay hạ giới (Prithvi), kh&ocirc;ng trung hay c&otilde;i trung gian (Antariksha), trời hay thi&ecirc;n giới (Dyaus). Nhưng chư thần c&oacute; đ&ocirc;ng đảo đến đ&acirc;u cũng chỉ l&agrave; sự biểu hiện kh&aacute;c nhau của một &ldquo;Đấng duy nhất&rdquo;. H&igrave;nh ảnh m&agrave; người ta cho l&agrave; hiện th&acirc;n của thượng đế to&agrave;n năng đ&oacute; l&agrave; thi&ecirc;n giới v&ocirc; thủy v&ocirc; chung. C&ugrave;ng với trời l&agrave; kh&iacute; dương, l&agrave; cha (Dyaus), c&oacute; đất l&agrave; kh&iacute; &acirc;m, l&agrave; mẹ (Aditya nghĩa đen l&agrave; v&ocirc; tận). Dyaus l&agrave; nguy&ecirc;n l&yacute; dương, l&agrave; tinh thần th&igrave; Aditya l&agrave; nguy&ecirc;n l&yacute; &acirc;m, l&agrave; vật chất. Ch&iacute;nh do trời cha v&agrave; đất mẹ giao hoan, giao cảm đ&atilde; sản sinh ra v&agrave; nu&ocirc;i dưỡng vạn vật, mu&ocirc;n lo&agrave;i trong vũ trụ. Thần cai quản hạ giới l&agrave; thần Lửa Agni. Thần cai quản kh&ocirc;ng trung l&agrave; thần Gi&oacute; V&acirc;yu v&agrave; thần cai quản thi&ecirc;n giới l&agrave; thần Mặt trời S&ugrave;rya hay c&ograve;n c&oacute; t&ecirc;n l&agrave; Mithra. Ba vị thần đ&oacute; được coi l&agrave; ba ng&ocirc;i tối linh trong kinh V&ecirc;đa (Trimurti)</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Thần lửa Agni l&agrave; một vị thần m&igrave;nh đỏ v&agrave; v&agrave;ng, c&oacute; hai đầu bảy lưỡi, bốn tay, tay thứ nhất cầm một chiếc r&igrave;u, tay thứ hai cầm một ngọn đuốc, tay thứ ba cầm một c&aacute;i quạt, tay thứ tư cầm chuỗi hạt. Agni cưỡi con cừu đực hay ngồi tr&ecirc;n chiếc xe c&oacute; bảy con ngựa k&eacute;o, kh&oacute;i l&agrave; cờ, gi&oacute; l&agrave; b&aacute;nh xe. Thần lửa đi tới đ&acirc;u l&agrave; lửa ch&aacute;y đến đ&oacute;. Tuy vậy thần lửa vẫn l&agrave; thần bảo hộ cho lo&agrave;i người, ban ph&aacute;t &aacute;nh s&aacute;ng v&agrave; hơi ấm cho nh&acirc;n gian, l&agrave; một trong những vị chủ tế trong c&aacute;c buổi tế lễ. Thần lửa Agni hiện th&acirc;n dưới nhiều h&igrave;nh thức, gồm năm h&igrave;nh thức tự nhi&ecirc;n v&agrave; năm h&igrave;nh thức tế tự, năm h&igrave;nh thức tự nhi&ecirc;n của thần lửa l&agrave;: lửa trần gian (agni), sấm s&eacute;t trong kh&ocirc;ng trung (indra), mặt trời ở thi&ecirc;n giới (surya), lửa nhuần khắp (vaishav&acirc;nara) v&agrave; ngọn lửa t&agrave;n ph&aacute; (vedevaagni) ngụ trong n&uacute;i lửa sẵn s&agrave;ng ti&ecirc;u diệt thế gian. Năm h&igrave;nh thức tế tự của thần lửa l&agrave;: lửa thi&ecirc;ng trong c&aacute;c buổi tế lễ (brahla agni), lửa trao cho thiếu ni&ecirc;n tu học (brahnacharya), lửa trong lễ khai h&oacute;a (upanayaha), lửa dung trong mỗi nh&agrave; kh&ocirc;ng bao giờ tắt (garhapatya agni), lửa trong c&uacute;ng tế tổ ti&ecirc;n hoặc vong hồn (pakshina agni), lửa thi&ecirc;ng tr&ecirc;n d&agrave;n hỏa t&aacute;n (kravyda agni).Thần Gi&oacute; V&acirc;yu cai quản kh&ocirc;ng trung, đ&oacute; l&agrave; một vị thần minh trắng, cưỡi tr&ecirc;n một con linh dương mang theo cung t&ecirc;n với tư thế oai phong, dũng m&atilde;nh. Đ&ocirc;i khi thần Gi&oacute; lại c&ugrave;ng với thần Sấm s&eacute;t Indra ngự tr&ecirc;n một chiếc xe bằng v&agrave;ng c&oacute; ng&agrave;n con ngựa k&eacute;o.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Thần Mặt trời S&ugrave;rya, do căn tự &ldquo;sur&rdquo; hay &ldquo;svar&rdquo; nghĩa l&agrave; &ldquo;s&aacute;ng ch&oacute;i&rdquo;, l&agrave; nguồn sống của vũ trụ, l&agrave; minh tr&iacute; của tất cả sinh vật, biểu thị bởi mười hai nguy&ecirc;n l&yacute; tối cao (&Acirc;ditya). Mười hai thần Aditya l&agrave; những vị n&agrave;o? Đ&oacute; l&agrave; mười hai th&aacute;ng trong năm, v&igrave; khi chuyển vận, c&aacute;c vị thần đ&oacute; cuốn theo tất cả thế gian, V&igrave; lẽ đ&oacute;, c&aacute;c thần ấy được gọi l&agrave; &Acirc;ditya (nguy&ecirc;n l&yacute; tối thượng)&rdquo;. Mặt trời l&agrave; trung t&acirc;m của vũ trụ, vừa thuộc thế giới kh&ocirc;ng biểu hiện vừa thuộc thế giới hiện tượng. Mặt trời l&agrave; con mắt của vũ trụ, l&agrave; nguy&ecirc;n nh&acirc;n của ban ng&agrave;y; ng&agrave;y tổn tại vĩnh cửu, l&agrave; nguồn gốc của thời gian. C&aacute;c tinh t&uacute; c&otilde;i đời (vasu), những nguy&ecirc;n l&yacute; của sự sống (rudra), thần Gi&oacute;, thần Lửa v&agrave; tất cả c&aacute;c thần kh&aacute;c đều l&agrave; th&agrave;nh phần của thần mặt trời.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">Thần Kh&ocirc;ng trung Varuna (bầu trời), theo người Ấn Độ l&agrave; vị thần bao la, rộng lớn với mu&ocirc;n ng&agrave;n con mắt lu&ocirc;n đứng d&otilde;i tr&ocirc;ng theo sự vận h&agrave;nh của vũ trụ v&agrave; canh giữ, bảo vệ c&ocirc;ng l&yacute; dưới sự phụ t&aacute; của thần điều khiển Rita.</span></p>

<p style="text-align:justify"><span style="color:#000000">N&oacute;i t&oacute;m lại, khi đ&aacute;nh gi&aacute; về kinh veda, Jawaharlal Nehru đ&atilde; viết: &ldquo;những b&agrave;i th&aacute;nh ca Veda n&agrave;y đ&atilde; được Rabindranath Tagore mi&ecirc;n tả l&agrave; một di ch&uacute;c n&ecirc;n thơ về phản ứng tập thể của một d&acirc;n tộc trước những điều kỳ diệu v&agrave; nỗi kinh ho&agrave;ng của cuộc sống. Một d&acirc;n tộc với sức sống s&aacute;ng tạo mạnh mẽ v&agrave; chất ph&aacute;c ở ngay buổi b&igrave;nh minh của nền văn minh đ&atilde; c&oacute; được &yacute; thức l&yacute; giải c&aacute;c b&iacute; ẩn v&ocirc; tận ẩn t&agrave;ng trong cuộc sống. L&ograve;ng tin đơn giản của họ đ&atilde; quy định t&iacute;nh thần th&aacute;nh cho mọi nh&acirc;n tố v&agrave; sức mạnh của thi&ecirc;n nhi&ecirc;n, nhưng đ&oacute; l&agrave; niềm tin dũng cảm v&agrave; đ&agrave;y đủ vui sướng, trong đ&oacute; &yacute; thức về sự huyền b&iacute; chỉ tạo cho cuộc sống sự say m&ecirc;, chứ kh&ocirc;ng phải l&agrave;m cho n&oacute; trở n&ecirc;n nặng nề với những trở ngại l&ograve;ng tin của một giống người kh&ocirc;ng phải chịu g&aacute;nh nặng của việc nghiền ngẫm tri thức về t&iacute;nh nhiều vẻ m&acirc;u thuẫn nhau của thế giới kh&aacute;ch quan, tuy l&uacute;c n&agrave;y l&uacute;c kh&aacute;c được soi s&aacute;ng nhờ kinh nghiệm trực gi&aacute;c.&nbsp;Văn h&oacute;a Veda đ&atilde; kh&ocirc;ng chỉ để lại cho d&acirc;n tộc Ấn m&agrave; cả nh&acirc;n loại một kho t&agrave;ng vĩ đại về tri thức ở mọi lĩnh vực của con người. Qủa thực nhận định &ldquo;C&aacute;i g&igrave; kh&ocirc;ng thấy trong Mahabharata th&igrave; cũng kh&ocirc;ng thấy ở Ấn Độ&rdquo; cũng đ&atilde; được lịch sử chứng minh.</span></p>

<p style="text-align: right;"><em><strong>T&aacute;c giả: T.T. Nguyễn</strong></em></p>

<p style="text-align: right;"><em><strong>Khoa Đ&ocirc;ng phương học&nbsp;</strong></em></p>

		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/tim-ve-coi-nguon-van-hoa-an-van-hoa-thoi-ky-veda-1600-600-tcn-116.html" title="Tìm về cội nguồn văn hóa Ấn: Văn hóa thời kỳ Veda (1600 – 600 TCN)">https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/tim-ve-coi-nguon-van-hoa-an-van-hoa-thoi-ky-veda-1600-600-tcn-116.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Khoa Đông phương học
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:webmaster@flis.vinades.my">webmaster@flis.vinades.my</a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<div id="run_cronjobs" style="visibility:hidden;display:none;"><img alt="cron" src="/index.php?second=cronjobs&amp;p=m0CzYDR1" width="1" height="1" /></div>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=7,nv_my_abbr="+07",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=1,nv_recaptcha_ver=2,nv_recaptcha_sitekey="6LfUJLoZAAAAAOF-uL1e3WO-MbQOZOJfBeGwOWBw",nv_recaptcha_type="image",XSSsanitize=1;</script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/main.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/custom.js"></script>
<script type="application/ld+json">
        {
            "@context": "https://schema.org",
            "@type": "Organization",
            "url": "https://fos.ussh.vnu.edu.vn",
            "logo": "https://fos.ussh.vnu.edu.vn/uploads/fos/dph-5.png"
        }
        </script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/bootstrap.min.js"></script>
</body>
</html>