<!DOCTYPE html>
    <html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
    <head>
<title>Phật giáo từ Siddharta đến Asoka</title>
<meta name="description" content="Phật giáo từ Siddharta đến Asoka - Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;fos.ussh.vnu.edu.vn&#x002F;vi&#x002F;news&#x002F;savefile&#x002F;tan-man-phuong-dong&#x002F;phat-giao-tu-siddharta-den-asoka-194.html">
<meta name="author" content="Khoa Đông phương học">
<meta name="copyright" content="Khoa Đông phương học [webmaster@flis.vinades.my]">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.5">
<meta name="viewport" content="width=device-width, initial-scale=1">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Phật giáo từ Siddharta đến Asoka">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;fos.ussh.vnu.edu.vn&#x002F;vi&#x002F;news&#x002F;savefile&#x002F;tan-man-phuong-dong&#x002F;phat-giao-tu-siddharta-den-asoka-194.html">
<meta property="og:site_name" content="Khoa Đông phương học">
<meta property="og:url" content="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/phat-giao-tu-siddharta-den-asoka-194.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/uploads/fos/dph-4.png">
<link rel="canonical" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/phat-giao-tu-siddharta-den-asoka-194.html">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/" title="Tin Tức" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/tin-hoat-dong/" title="Tin Tức - Tin hoạt động" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/su-kien-nha-truong/" title="Tin Tức - Nhân vật - Sự kiện" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/lich-cong-tac-tuan/" title="Tin Tức - Lịch công tác tuần" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/thong-tin-tuyen-sinh/" title="Tin Tức - Thông tin tuyển sinh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/tan-man-phuong-dong/" title="Tin Tức - Tản mạn Phương Đông" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/bootstrap.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.responsive.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/css/news.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/fonts/Alatsi/stylesheet.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/custom.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/flis.vi.21.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/main.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/custom.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/bootstrap.min.js" type="text/javascript">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/bootstrap.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/style.responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/css/news.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/fonts/Alatsi/stylesheet.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/css/custom.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/flis.vi.21.css">
<style type="text/css">
	body{background: #fff;}
</style>
    </head>
    <body class="sub-page">
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Khoa Đông phương học</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Khoa Đông phương học" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/">https://fos.ussh.vnu.edu.vn</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Phật giáo từ Siddharta đến Asoka</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ sáu - 22/04/2016 00:00</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
		</div>
				<div class="imghome">
			<img alt="Phật giáo từ Siddharta đến Asoka" src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/uploads/fos/news/2016_04/ashoka-facts-history-quotes.jpg" width="650" class="img-thumbnail" />
						<p>
				<em>Phật giáo từ Siddharta đến Asoka</em>
			</p>
		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
			<p style="text-align:justify">&Ocirc;ng trở th&agrave;nh một nh&acirc;n vật huyền thoại, c&oacute; những c&aacute;ch hiểu, c&aacute;ch đ&aacute;nh gi&aacute; kh&aacute;c nhau, g&acirc;y n&ecirc;n những cuộc tranh luận k&eacute;o d&agrave;i. B&agrave;i n&agrave;y dừng lại chủ yếu ở mặt những đ&oacute;ng g&oacute;p của &ocirc;ng về văn h&oacute;a, t&ocirc;n gi&aacute;o, tuy nhi&ecirc;n, d&ugrave; vai tr&ograve; c&aacute; nh&acirc;n của &ocirc;ng c&oacute; lớn đến đ&acirc;u cũng kh&ocirc;ng thể t&aacute;ch rời thời đại &ocirc;ng, vương triều m&agrave; &ocirc;ng l&agrave; một người đại diện. C&oacute; thể n&oacute;i kh&aacute;i qu&aacute;t, &ocirc;ng l&agrave; &nbsp;nh&acirc;n vật cuối, kết th&uacute;c cả ba vương triều thống nhất v&agrave; x&acirc;y dựng tr&ecirc;n lưu vực Ganga trải d&agrave;i trong nửa sau thi&ecirc;n kỷ I trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n, một thời kỳ đặt nền m&oacute;ng, c&oacute; &yacute; nghĩa lớn:</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;1. Lưu vực s&ocirc;ng Hằng, Đ&ocirc;ng Bắc Ấn Độ trải qua một ngh&igrave;n năm đầu ti&ecirc;n khai ph&aacute; (từ khoảng 1.500 năm đến 500 năm trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) của c&aacute;c bộ lạc l&agrave;m n&ocirc;ng nghiệp v&agrave; chăn nu&ocirc;i, l&agrave;m đồ gốm &aacute;o mầu đen b&oacute;ng v&agrave; những đồ trang sức bằng đ&aacute; đen. Đ&acirc;y l&agrave; cả một thời gian d&agrave;i m&agrave; đời sống vật chất v&agrave; tinh thần được phản &aacute;nh qua những vần thơ truyền khẩu được gọi l&agrave; kinh Veda. Đ&oacute; cũng l&agrave; thời m&agrave; cư d&acirc;n ở đ&acirc;y tin thờ thần th&aacute;nh Veda (Vedaisme) hay B&agrave; La M&ocirc;n (Brahmanisme). Họ tập hợp th&agrave;nh hai li&ecirc;n minh bộ lạc, từ đ&oacute; th&agrave;nh hai nh&oacute;m tiểu quốc sơ kỳ, thường kh&ocirc;ng tr&aacute;nh được sự tranh chấp đất đai, tranh gi&agrave;nh ưu thế tr&ecirc;n đường ph&aacute;t triển. T&igrave;nh h&igrave;nh đ&oacute; &iacute;t nhiều được phản &aacute;nh trong bộ sử thi l&uacute;c đầu truyền khẩu l&agrave; Mahabharata.</p>

<p style="text-align:justify">Khoảng năm 500 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n, c&aacute;c tiểu quốc được tập hợp, thu phục trong hai quốc gia ph&aacute;t triển nhất, mạnh nhất l&agrave; Magadha v&agrave; Kosala. Vua đầu ti&ecirc;n của Magadha l&agrave; Bimbissara tự nhận l&agrave; c&ugrave;ng thời với Siddharta, tức Sakya Muni, tức Buddha hay Phật tổ.</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;Đ&acirc;y l&agrave; một bước ngoặt. Nhưng cũng c&oacute; thể n&oacute;i khoảng giữa thi&ecirc;n ni&ecirc;n kỷ I trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n &nbsp;dường như l&agrave; một bước ngoặt trong lịch sử lo&agrave;i người:</p>

<p style="text-align:justify">a. Ở đ&acirc;y l&agrave; sự xuất hiện của Siddharta (ca 624-543 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) v&agrave; sự truyền b&aacute; Phật gi&aacute;o; cũng l&agrave; thời điểm chuyển từ B&agrave; La M&ocirc;n sang Hindu gi&aacute;o (Hinduisme). Phật gi&aacute;o v&agrave; Hindu gi&aacute;o c&ugrave;ng tồn tại, đối xứng nhau trong x&atilde; hội Ấn Độ qua mấy thế kỷ (từ giữa đến cuối thi&ecirc;n ni&ecirc;n kỷ I trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n), trở th&agrave;nh một hiện tượng rất đặc sắc của lịch sử - văn h&oacute;a thế giới.</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp; b. Ở một trung t&acirc;m kh&aacute;c, ph&iacute;a t&acirc;y, ở Địa Trung Hải, tr&ecirc;n b&aacute;n đảo Hy Lạp, nh&agrave; nước Aten - Polis Athinai, l&agrave; thời của Perikles (ca 495-429 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n), cũng l&agrave; thời của Phidias v&agrave; Praxiteles x&acirc;y Parthenon, thời m&agrave; quyền v&agrave; gi&aacute; trị con người c&ocirc;ng d&acirc;n (demos) đạt tới đỉnh cao v&agrave; trở th&agrave;nh kiểu mẫu của mọi thời đại.</p>

<p style="text-align:justify">c. Ở Trung Quốc, đ&acirc;y l&agrave; bước chuyển từ thời Xu&acirc;n Thu sang thời Chiến Quốc, thời Khổng Tử (551-479 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n), người s&aacute;ng lập hệ tư tưởng Nho gi&aacute;o đ&atilde; chế ngự một thời trong tư tưởng v&agrave; nhiều thời trong x&atilde; hội n&ocirc;ng nghiệp phụ quyền Đ&ocirc;ng &Aacute;.</p>

<p style="text-align:justify">d. Ở bờ biển Đ&ocirc;ng Nam &Aacute; l&agrave; sự khởi đầu của Văn h&oacute;a Đ&ocirc;ng Sơn, Sa Huỳnh v&agrave; Cần Giờ, bắt đầu của thời đại đồ sắt, chuẩn bị cho sự ra đời của Nh&agrave; nước m&agrave; trước hết l&agrave; Nh&agrave; nước &Acirc;u Lạc tr&ecirc;n lưu vực s&ocirc;ng Hồng.</p>

<p style="text-align:justify">e. Tất cả c&aacute;c sự kiện gần đồng thời đ&oacute;, c&oacute; quan hệ g&igrave; với nhau kh&ocirc;ng? L&agrave; ngẫu nhi&ecirc;n hay l&agrave; quy luật của Trời Đất? Hiện chưa c&oacute; c&acirc;u trả lời.</p>

<p style="text-align:justify">2. Xin h&atilde;y trở lại Ấn Độ ở thời điểm ban đầu. Đạo B&agrave; La M&ocirc;n thịnh h&agrave;nh từ khoảng 1.500 năm đến 500 năm trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n gắn liền với sự ph&acirc;n h&oacute;a x&atilde; hội ban đầu, với chế độ sắc đẳng Varna v&agrave; với t&iacute;n ngưỡng gi&aacute;o điều &ldquo;Con người phải tu&acirc;n theo Đạo Ph&aacute;p (dharma), trong đ&oacute;, con người phải chịu hệ lụy - nghiệp chướng (karma) do sự lu&acirc;n hồi (samsara) từ kiếp trước&rdquo;. N&oacute;i c&aacute;ch kh&aacute;c, mỗi con người c&oacute; số phận v&agrave; phải chấp nhận số phận do thần th&aacute;nh an b&agrave;i.</p>

<p style="text-align:justify">a. Đến khoảng 500 năm trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n, t&igrave;nh h&igrave;nh x&atilde; hội Ấn Độ c&oacute; những biến đổi tr&ecirc;n đ&agrave; ph&aacute;t triển, Hindu gi&aacute;o thay thế B&agrave; La M&ocirc;n gi&aacute;o, nhưng kh&ocirc;ng tạo n&ecirc;n sự đảo lộn, m&agrave; giữ nguy&ecirc;n v&agrave; mở rộng hệ thống thần th&aacute;nh, ho&agrave;n chỉnh gi&aacute;o l&yacute; v&agrave; lễ nghi, một hệ thống chi tiết hơn, rộng lớn hơn tr&ecirc;n cơ sở bảo tồn gi&aacute;o l&yacute; cơ bản của Đạo Ph&aacute;p, dharma. Một t&ocirc;n gi&aacute;o mới mở rộng tr&ecirc;n nền t&ocirc;n gi&aacute;o cũ, gi&aacute;o l&yacute; cũ, nhưng th&iacute;ch hợp với t&igrave;nh h&igrave;nh mới: x&atilde; hội ph&acirc;n h&oacute;a s&acirc;u sắc hơn, lồng trong cả sự ph&acirc;n biệt đẳng cấp casta khắc nghiệt hơn. Sự ph&acirc;n h&oacute;a gi&agrave;u ngh&egrave;o l&agrave;m tăng l&ograve;ng ham muốn v&agrave; cũng tăng nỗi thất vọng. Sự ph&acirc;n đẳng cấp lại khơi s&acirc;u sự c&aacute;ch biệt, ch&agrave; đạp nh&acirc;n phẩm. Những điều đ&oacute; dẫn tới t&igrave;nh cảnh &ldquo;nước mắt của ch&uacute;ng sinh chứa đầy ba biển lớn&rdquo;, nỗi đau khổ của con người tr&agrave;n ngập khắp nơi. Đ&oacute; l&agrave; bối cảnh ra đời của gi&aacute;o l&yacute; Phật.</p>

<p style="text-align:justify">b. Hạt nh&acirc;n của Phật gi&aacute;o l&agrave; giải th&iacute;ch &nbsp;nguồn gốc của nỗi khổ v&agrave; con đường cứu khổ. Sinh ra tr&ecirc;n đất Ấn Độ, thấm đượm tư duy Ấn Độ, sống trong khung cảnh kinh tế -x&atilde; hội Ấn Độ thời đ&oacute;, người ẩn sĩ của bộ lạc Sakya vẫn kh&ocirc;ng sao tho&aacute;t ra khỏi &yacute; nghĩ về số phận, về sự lu&acirc;n hồi v&agrave; nh&acirc;n duy&ecirc;n, cũng l&agrave; hệ lụy của Đạo Ph&aacute;p, nhưng nếu như Hindu gi&aacute;o hầu như lờ đi khả năng giải tho&aacute;t - moksa, tuy c&oacute; n&oacute;i đến, th&igrave; Siddharta l&agrave; người đầu ti&ecirc;n nhấn mạnh sự giải tho&aacute;t v&agrave; khả năng giải tho&aacute;t khỏi lu&acirc;n hồi, tuy rằng rất kh&ocirc;ng cụ thể, bởi giải tho&aacute;t bằng quan niệm - nhận thức về sự hư v&ocirc; (shunyata) của cuộc sống trần ai. Phật khuy&ecirc;n rằng bất kỳ ai nếu chịu tu luyện theo t&aacute;m con đường đ&uacute;ng th&igrave; đều c&oacute; thể đạt tới c&otilde;i Phật, đều được giải tho&aacute;t khỏi lu&acirc;n hồi. Chỉ như thế cũng đ&atilde; đủ thấy Phật gi&aacute;o d&ugrave; kh&ocirc;ng tuy&ecirc;n ng&ocirc;n ồn &atilde;, cũng đ&atilde; tỏ r&otilde; t&igrave;nh thương người, l&ograve;ng khoan dung v&agrave; &yacute; thức về sự b&igrave;nh đẳng ch&uacute;ng sinh tr&ecirc;n con đường tu luyện: một niềm an ủi lớn v&agrave; một sự kh&iacute;ch lệ lớn.</p>

<p style="text-align:justify">c. Cả hai t&ocirc;n gi&aacute;o c&ugrave;ng truyền b&aacute; kh&ocirc;ng ngừng mở rộng, đan xen nhau trong d&acirc;n cư v&ugrave;ng Bắc Ấn hẳn l&agrave; một c&aacute;ch lặng lẽ, h&ograve;a b&igrave;nh, nhưng trong bối cảnh diễn tiến ch&iacute;nh trị rất s&ocirc;i động v&agrave; phong ph&uacute;:</p>

<p style="text-align:justify">- Vương triều đầu ti&ecirc;n của Magadha, triều Bimbissara trải qua t&aacute;m đời vua, từ năm 550 đến 360 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n.</p>

<p style="text-align:justify">- Vương triều thứ hai, gọi l&agrave; Nanda, hơi ngắn (360-321 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) v&agrave; hơi phẳng lặng, rồi kết th&uacute;c bằng cuộc tấn c&ocirc;ng x&acirc;m nhập v&ugrave;ng Bắc Ấn của đạo qu&acirc;n Hy Lạp - Makedonia do Aleksandros Đại đế chỉ huy.</p>

<p style="text-align:justify">- Vương triều thứ ba, Maurya (con C&ocirc;ng) do Chandra Gupta s&aacute;ng lập sau khi đ&aacute;nh lui được đạo qu&acirc;n Hy Lạp lưu tr&uacute; ra khỏi v&ugrave;ng Ngũ H&agrave; - Panjab, thượng nguồn s&ocirc;ng Indus. Vương triều n&agrave;y v&agrave; c&oacute; lẽ ngay từ đầu đời Chandra Gupta (321-297 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) l&agrave; thời m&agrave; học giả Panini ho&agrave;n th&agrave;nh việc chỉnh l&yacute;, ho&agrave;n thiện, từ ngữ, chữ viết v&agrave; văn phạm Phạn ngữ (Sanskrit), mở đầu việc ghi ch&eacute;p c&aacute;c kinh tịch, truyện v&agrave; thần thoại Hindu gi&aacute;o (Purana).</p>

<p style="text-align:justify">Đ&acirc;y l&agrave; thời Đức vua trọng dụng Kautilya, một học giả rất nổi tiếng, đ&atilde; bi&ecirc;n soạn Arthasastra - Luận về bổn phận m&agrave; một số t&aacute;c giả nước ngo&agrave;i thường dịch l&agrave; &ldquo;Khoa học ch&iacute;nh trị&quot; v&agrave; gi&uacute;p vua cai trị đất nước được phồn vinh.</p>

<p style="text-align:justify">Đ&acirc;y cũng l&agrave; thời tiếp x&uacute;c v&agrave; giao lưu văn h&oacute;a Đ&ocirc;ng - T&acirc;y, Hy Lạp - Ấn Độ. Quan hệ tương t&aacute;c thực sự n&ecirc;n &iacute;t nhất cũng đ&atilde; tạo n&ecirc;n một phong c&aacute;ch nghệ thuật tượng Phật gi&aacute;o - Hy Lạp (Art greco-bouddhique) với những trường ph&aacute;i địa phương như Gandhara ở v&ugrave;ng Panjab, Mathura ở Bắc Ấn Độ, Amaravati ở Đ&ocirc;ng - Nam Ấn Độ. C&ugrave;ng với Arthasastra của Kautilya, người ta c&ograve;n biết kh&aacute; nhiều về x&atilde; hội Ấn Độ qua t&aacute;c phẩm Indika (nước Ấn Độ), ghi ch&eacute;p của nh&agrave; ngoại giao v&agrave; nh&agrave; văn h&oacute;a người Hy Lạp, Megasthenes, đ&atilde; đến sống một thời gian dưới thời Asoka. Điều đ&oacute; cũng cho thấy sự cởi mở của Ấn Độ với thế giới b&ecirc;n ngo&agrave;i ngay từ giai đoạn rất sớm n&agrave;y.</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;3. Vương triều thứ ba, gọi l&agrave; vương triều Maurya (con C&ocirc;ng), c&oacute; ba vua, sau Chandra Gupta l&agrave; Bindusara (297-272 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) &nbsp;l&agrave; con trai, rồi đến ch&aacute;u nội l&agrave; Asoka (khoảng 268-232 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) - đỉnh cao của lịch sử Ấn Độ cổ đại, đ&aacute;nh dấu một thời kỳ rất đặc sắc m&agrave; những c&ocirc;ng t&iacute;ch của vương triều v&agrave; nhất l&agrave; &ocirc;ng vua cuối của vương triều - Asoka, đ&atilde; g&acirc;y n&ecirc;n những cuộc tranh luận s&ocirc;i nổi về nhiều vấn đề của vương triều n&agrave;y:</p>

<p style="text-align:justify">a. Cuộc chinh phục của Asoka</p>

<p style="text-align:justify">Vương triều Maurya lập nghiệp tr&ecirc;n cơ sở giải ph&oacute;ng l&atilde;nh thổ miền T&acirc;y - Bắc, thống nhất v&agrave; mở rộng miền Đ&ocirc;ng - Bắc tr&ecirc;n lưu vực s&ocirc;ng Ganga, đ&atilde; c&oacute; điều kiện v&agrave; c&oacute; nhu cầu tiếp tục ph&aacute;t triển bằng c&aacute;ch &nbsp;chinh phục c&aacute;c v&ugrave;ng, miền kh&aacute;c của b&aacute;n đảo Hindustan. C&oacute; một số nh&agrave; sử học cho rằng c&ocirc;ng cuộc chinh phục n&agrave;y đ&atilde; được tiến h&agrave;nh c&oacute; kết quả từ đời &ocirc;ng v&agrave; vua cha của Asoka, tuy nhi&ecirc;n, chắc rằng chưa rộng khắp v&agrave; chưa được chắc chắn, khi c&ograve;n lại một quốc gia kh&aacute; mạnh vẫn c&ograve;n đứng ri&ecirc;ng, đứng chắn con đường đi xuống phương Nam l&agrave; Kalinga, ở bờ biển ph&iacute;a Đ&ocirc;ng, ph&iacute;a Bắc Deccan, Bắc s&ocirc;ng Godavari. Nhiệm vụ n&agrave;y đặt ra cho Asoka. Sau khi l&ecirc;n ng&ocirc;i, &ocirc;ng đ&atilde; chuẩn bị một lực lượng h&ugrave;ng hậu, tấn c&ocirc;ng Kalinga, mạnh mẽ, bền bỉ trong một thời gian d&agrave;i, cuối c&ugrave;ng đ&atilde; gi&agrave;nh được thắng lợi. Trong một bản văn khắc, &ocirc;ng khoe &ldquo;đ&atilde; giết được 100.000 qu&acirc;n địch, bắt 150.000 người, thu được nhiều của cải, vũ kh&iacute;, đồ d&ugrave;ng...&rdquo; (R. Thapar, 1966); từ đ&acirc;y, mở ra con đường chinh phục c&aacute;c v&ugrave;ng l&atilde;nh thổ kh&aacute;c của Asoka, đặc biệt l&agrave; bờ biển &nbsp;T&acirc;y Ghat, v&ugrave;ng Deccan v&agrave; miền Nam.</p>

<p style="text-align:justify">b. Đế quốc Asoka</p>

<p style="text-align:justify">Một số nh&agrave; sử học chưa tin v&agrave;o l&atilde;nh thổ đ&atilde; được chinh phục, mở rộng đến mức n&agrave;o của Asoka. Người kh&aacute;c lại dựa v&agrave;o sự &nbsp;ph&acirc;n c&aacute;ch của địa h&igrave;nh, sự kh&aacute;c nhau giữa thực tế c&aacute;c v&ugrave;ng, đ&atilde; ho&agrave;i nghi về đế quốc cổ đại Ấn Độ. Một số người kh&aacute;c, trong đ&oacute; c&oacute; Bongard Levin, R. Thapar, lại dựa v&agrave;o bản đồ c&aacute;c văn khắc của Asoka, c&oacute; thể tin l&agrave; Asoka đ&atilde; thực tế chinh phục, thống nhất được gần hết tiểu lục địa Hindustan, cả v&ugrave;ng lưu vực s&ocirc;ng Indus, nay thuộc Pakistan, chỉ trừ một mỏm cực Nam, ph&iacute;a Nam s&ocirc;ng Kaveri, l&agrave; quốc gia Pandyas sau n&agrave;y. Bản đồ &nbsp;được vẽ lại ở đ&acirc;y dựa theo bản của Romila Thapar (1966), &nbsp;Rama Shankar Tripathi (1942) v&agrave; của Namita Sugandhi (2003).</p>

<p style="text-align:justify">Rama Shankar Tripathi (1942) th&igrave; tin v&agrave; tr&igrave;nh b&agrave;y cơ sở của đế quốc Asoka đ&oacute;: theo &ocirc;ng, ch&iacute;nh Asoka coi quốc gia của m&igrave;nh l&agrave; một đế quốc (Savaputha viyam) v&agrave; đ&atilde; thốt l&ecirc;n &ldquo;đế quốc của ta rộng lớn biết bao!&rdquo; (mahalake hi vijtam).</p>

<p style="text-align:justify">Ng&agrave;y nay, người ta biết về đế quốc n&agrave;y chủ yếu qua m&ocirc; tả trong Arthasastra m&agrave; n&oacute; được x&acirc;y dựng theo đề &aacute;n của Kautilya, tức l&agrave; hiện thực đến đ&acirc;u th&igrave; chưa r&otilde;: triều đ&igrave;nh c&oacute; Tể tướng (Mantris) gi&uacute;p việc vua, đứng đầu ch&iacute;nh phủ (Parisad), gồm c&oacute; bốn &ldquo;bộ&rdquo;/thượng thư, cai quản 18 ban (Tirthas), trong đ&oacute; c&oacute; Purohita (Đại Tăng), Senapati (Chỉ huy qu&acirc;n đội), Samaharta (thuế vụ), Sannidhata (Kho bạc), Dandapala (Cảnh s&aacute;t), Lavana (Muối), Pattana (Cảng vụ), Samstha (Thương mại), Paura (Đ&ocirc; trưởng - phụ tr&aacute;ch kinh đ&ocirc;)...</p>

<p style="text-align:justify">Đế quốc chia l&agrave;m một số &ldquo;tỉnh&rdquo;; cấp địa phương n&agrave;y c&oacute; một Ban điều h&agrave;nh, gồm cả s&aacute;u sở, mỗi sở c&oacute; năm th&agrave;nh vi&ecirc;n phụ tr&aacute;ch.</p>

<p style="text-align:justify">Qu&acirc;n đội được tổ chức th&agrave;nh s&aacute;u doanh: Bộ Binh (ta được biết c&oacute; 600.000 người), Kỵ (30.000 ngựa), Tượng (9.000 voi), Xa (8.000 xe), Hậu cần, Vận chuyển... Ta c&ograve;n được biết qua ghi ch&eacute;p của Megasthenes, thủ đ&ocirc; Pataliputra l&agrave; đ&ocirc; thị lớn nhất ở Ấn &nbsp;Độ: d&agrave;i 90 stadia (18 km), rộng 1,5 stadia (3 km), c&oacute; th&agrave;nh cao, h&agrave;o s&acirc;u, 570 th&aacute;p, 64 cổng. Tọa lạc tr&ecirc;n doi đất giữa hai s&ocirc;ng &nbsp;Erannoboas (Sone) v&agrave; Ganges. Ng&agrave;y nay, thủ đ&ocirc; xưa cũ chỉ c&ograve;n lại một &iacute;t phế t&iacute;ch, n&ecirc;n kh&ocirc;ng thể x&aacute;c định những điều m&ocirc; tả thực, hư đến mức n&agrave;o.</p>

<p style="text-align:justify">c. Asoka v&agrave; Phật gi&aacute;o</p>

<p style="text-align:justify">Asoka l&ecirc;n ng&ocirc;i (ca 268 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) khi Phật tổ Siddharta vi&ecirc;n tịch đ&atilde; qua 275 năm (543-268 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) v&agrave; cũng bằng ấy năm, Phật gi&aacute;o được truyền b&aacute; ở Ấn Độ, th&igrave; 36 năm cầm quyền sau đ&oacute;, cũng chủ yếu l&agrave; thời gian chinh chiến, trận mạc li&ecirc;n mi&ecirc;n, &ocirc;ng c&oacute; vai tr&ograve; g&igrave; với Phật gi&aacute;o? L&ecirc;n ng&ocirc;i khoảng t&aacute;m năm (ca 260 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n), Asoka đem qu&acirc;n tiến đ&aacute;nh Kalinga; ngay sau trận n&agrave;y, giết hại sinh linh nhiều qu&aacute;, &ocirc;ng ăn năn, n&ecirc;n đ&atilde; &ldquo;dốc l&ograve;ng theo Phật gi&aacute;o v&agrave; giảng giải gi&aacute;o l&yacute; Phật&rdquo;. C&oacute; t&aacute;c giả cho rằng điều đ&oacute; biểu hiện ở những văn khắc của &ocirc;ng v&agrave; việc &ocirc;ng hỗ trợ chấn hưng Phật gi&aacute;o. Gi&aacute;o l&yacute; Phật đ&acirc;u phải c&oacute; nhiều điều l&yacute; thuyết để học, để thảo luận. Vấn đề l&agrave; l&agrave;m chứ kh&ocirc;ng phải l&agrave; học thuộc, l&agrave; n&oacute;i. &Ocirc;ng c&oacute; tự bạch &ldquo;c&oacute; hai năm rưỡi đi l&agrave;m upasaka, nhưng cũng kh&ocirc;ng h&agrave;nh được tốt (MRE I). Nghĩa Tĩnh kể lại đ&atilde; xem &nbsp;thấy h&igrave;nh vẽ Asoka mặc &aacute;o tu h&agrave;nh, mặt kh&aacute;c, ho&agrave;ng đế &nbsp;lại lu&ocirc;n lu&ocirc;n c&oacute; một đ&aacute;m đ&ocirc;ng cung tần, thị nữ v&acirc;y quanh v&agrave; cả một đội nữ vệ binh trang bị cung t&ecirc;n (Strabo, XV, 55; Arthasastra, I, 21).</p>

<p style="text-align:justify">Trong những năm trị v&igrave; của &ocirc;ng, Hội đồng Phật gi&aacute;o được Asoka bảo trợ triệu tập họp ba lần:</p>

<p style="text-align:justify">- Lần 1, họp ở Rajagriha do Đại tăng Mahakasyapa triệu tập v&agrave; chủ tọa.</p>

<p style="text-align:justify">- Lần 2, họp ở Lichavi do Đại tăng Vaisaly l&agrave;m chủ tọa.</p>

<p style="text-align:justify">- Lần 3, biết r&otilde; hơn: họp năm thứ 17 triều vua của &ocirc;ng (251 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n) tại Thủ đ&ocirc; Pataliputra do Đại tăng Mogaliputra Tissa Upa Gupta chủ tr&igrave;. Đến thời điểm n&agrave;y đ&atilde; xuất hiện &iacute;t nhất 12 gi&aacute;o ph&aacute;i kh&aacute;c nhau, n&ecirc;n c&aacute;c hội nghị c&oacute; mục đ&iacute;ch chủ yếu l&agrave; uốn nắn sự đi chệch hướng, sự chia rẽ v&agrave; hiềm kh&iacute;ch với nhau.</p>

<p style="text-align:justify">Asoka đ&atilde; cho l&agrave;m một số văn khắc, rất nổi tiếng m&agrave; qua đ&acirc;y, c&oacute; thể hiểu r&otilde; c&aacute;c hoạt động của &ocirc;ng. Trước đ&acirc;y c&oacute; t&aacute;c giả gọi chung l&agrave; &quot;Cột Asoka&quot;, dễ nhầm lẫn với cột sắt Samudra Gupta ở Delhi, (335-375 sau C&ocirc;ng nguy&ecirc;n).</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;Theo bản đồ của R. Thapar (1966) v&agrave; của N. Sugandhi gần đ&acirc;y (2003) th&igrave; c&oacute; 31 văn khắc, c&ograve;n theo thống k&ecirc; của R.S. Tripathi cũng c&oacute; 31 bản. C&aacute;c t&aacute;c giả Ấn Độ c&oacute; th&oacute;i quen ph&acirc;n loại theo h&igrave;nh d&aacute;ng v&agrave; gọi l&agrave; chỉ dụ (Edict): khắc tr&ecirc;n bảng đ&aacute; (tương đối lớn) (rock) (v&aacute;ch đ&aacute; m&agrave;i nhẵn) gọi tắt l&agrave; RE, tr&ecirc;n phiến, nhỏ hơn (minor rock) (MRE) v&agrave; tr&ecirc;n cột (pillar) (PE), l&agrave; phiến đ&aacute; cao, hẹp, tr&ocirc;ng như cột. Cụ thể c&oacute;: hai bảng RE, một phiến MRE, 16 bảng trong hang (Cave RE), bảy cột PE, hai bảng ri&ecirc;ng v&agrave; ba cột nhỏ.</p>

<p style="text-align:justify">C&aacute;c bản văn n&agrave;y đều được viết/khắc bằng phương ngữ Prakrit v&agrave; chữ Brahmi. V&ugrave;ng T&acirc;y Bắc (Penjab) th&igrave; viết ngữ Prakit, chữ Kharosthi, c&oacute; bản viết chữ Hy Lạp v&agrave; Aramaic của v&ugrave;ng Lưỡng H&agrave; (Xin xem ảnh chụp một bản chữ Brahmi). C&aacute;c bản văn n&agrave;y kh&ocirc;ng ho&agrave;n to&agrave;n giống nhau, t&ugrave;y mỗi nơi c&oacute; th&ecirc;m bớt, nhưng nội dung v&agrave; tinh thần cơ bản th&igrave; giống nhau. Lời văn, theo A.Sen (1956), D.C.Sircar (1979), V.A.Smith (1901) th&igrave; &nbsp;th&ocirc;, vụng, rườm r&agrave;, rắc rối, d&agrave;i d&ograve;ng, nhiều từ, &yacute; điệp. Nhờ c&oacute; James Prinsep, học giả người Anh, giải m&atilde; được chữ Brahmi năm 1837 m&agrave; những năm sau đ&oacute;, c&aacute;c học giả Ấn Độ dịch đi dịch lại, sửa chữa m&agrave; ng&agrave;y nay đ&atilde; c&oacute; kh&aacute; đủ c&aacute;c bản văn đ&oacute; v&agrave; bản dịch ng&agrave;y c&agrave;ng ho&agrave;n thiện hơn. Dưới đ&acirc;y l&agrave; một số bản dịch dựa theo bản dịch tiếng Anh, chủ yếu của R.S. Tripathi, c&oacute; tham khảo, đối chiếu với một số học giả kh&aacute;c.</p>

<p style="text-align:justify">1. R.E III</p>

<p style="text-align:justify">Đức vua Priyadarsin[1] chỉ dụ:</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;&ldquo;V&agrave;o năm thứ 13 trị v&igrave; của ta,Trẫm ra lệnh: Tr&ecirc;n khắp mọi miền trong l&atilde;nh thổ của ta, c&aacute;c vương hầu, c&ocirc;ng khanh, thuộc quan[2], phải xem x&eacute;t cứ năm năm một lần, b&aacute;o c&aacute;o l&ecirc;n Hội đồng[3] về c&ocirc;ng việc đặc biệt bổ sung cho những c&ocirc;ng việc kh&aacute;c li&ecirc;n quan đến Luật về T&igrave;nh thương, tức l&agrave; &ldquo;Hiếu thảo với cha mẹ l&agrave; đức tốt, rộng l&ograve;ng với bạn hữu, người quen, người th&acirc;n, với Brahman v&agrave; ẩn sĩ l&agrave; đức tốt. Gi&aacute;o phẩm phải khuy&ecirc;n bảo như thế với mọi c&ocirc;ng khanh, thật chi tiết cả lời v&agrave; &yacute;.</p>

<p style="text-align:justify">Đức vua Priyadarsin sủng &aacute;i của thần th&aacute;nh đ&atilde; n&oacute;i như thế n&agrave;y: đ&acirc;y l&agrave; lệnh của Trẫm, Đức vua đ&atilde; ngự tr&ecirc;n ng&ocirc;i b&aacute;u được 12 năm, rằng tr&ecirc;n to&agrave;n l&atilde;nh thổ của ta, cứ năm năm một lần, c&aacute;c Yuktas, Rajukas v&agrave; Pradesikas[4] phải đi đến khắp mọi nơi để dạy bảo dharma đ&oacute; v&agrave; l&agrave;m những c&ocirc;ng việc kh&aacute;c: Hiếu với cha mẹ l&agrave; đức tốt. Đễ với anh em, với bạn hữu, người quen, người th&acirc;n, ẩn sĩ, Brahmins l&agrave; đức tốt. Kh&ocirc;ng s&aacute;t sinh cũng l&agrave; đức tốt. &iacute;t ng&ocirc;ng cuồng v&agrave; &iacute;t tư lợi cũng l&agrave; đức tốt. Hội đồng cũng sẽ chỉ định Yuktas theo đăng k&yacute;, theo l&yacute; lẽ v&agrave; đơn thỉnh cầu&rdquo;.</p>

<p style="text-align:justify">2. R.E. XIII</p>

<p style="text-align:justify">Đ&acirc;y l&agrave; &yacute; của Đức vua Sủng &aacute;i của Thần th&aacute;nh: sự chinh phục đ&aacute;ng qu&yacute; nhất l&agrave; sự chinh phục dharma. Điều đ&oacute; lại c&oacute; được ở đ&acirc;y bởi Sủng &aacute;i của Thần th&aacute;nh, k&eacute;o d&agrave;i tới bi&ecirc;n cương xa tới 600 yojanas, tr&ecirc;n th&igrave; đến cả nơi c&oacute; vua của Yona t&ecirc;n l&agrave; &nbsp;Antiochus v&agrave; xa hơn nữa, nơi c&oacute; bốn vua gọi l&agrave; Tulamaya, Antekina, Maka v&agrave; Alikasudara[5], dưới th&igrave; đến Cholas, Pandya[6], lại ngược l&ecirc;n đến Tamabraparni v&agrave; cũng như vậy, nơi c&oacute; c&aacute;c khu cư tr&uacute; thuộc Đức vua ở v&ugrave;ng của người Yonas, Kambojas, Nabhakas, Nabhapamtisus, Bhojas, Pitinikas, Andhras v&agrave; Paradas[7]. Khắp nơi đ&oacute;, nghe &nbsp;v&agrave; thực h&agrave;nh lời dạy Dharma của đấng Sủng &aacute;i của Thần th&aacute;nh, thực h&agrave;nh v&agrave; theo dharma. Khắp mọi nơi n&agrave;o chinh phục được điều đ&oacute; đều cảm thấy hoan hỉ. C&oacute; niềm hoan hỉ đ&oacute; l&agrave; do chinh phục được dharma.</p>

<p style="text-align:justify">3. MRE II</p>

<p style="text-align:justify">Sủng &aacute;i của Thần th&aacute;nh truyền như thế - những g&igrave; Sủng &aacute;i của Thần th&aacute;nh n&oacute;i l&agrave; để thi h&agrave;nh, l&agrave; y&ecirc;u cầu với Rajukas, với d&acirc;n ch&uacute;ng v&agrave; với Rastrikas: phải hiếu với cha mẹ, đễ với huynh trưởng, y&ecirc;u thương đồng loại. N&oacute;i điều ch&acirc;n thật l&agrave; những phẩm chất dharma cần phải thực h&agrave;nh. C&aacute;c người phải tu&acirc;n theo điều đ&oacute; của đấng Sủng &aacute;i của Thần th&aacute;nh, phải truyền lại với quản tượng, thư lại, x&agrave; &iacute;ch v&agrave; Brahmins. C&aacute;c người phải dạy bảo học tr&ograve; thực h&agrave;nh điều cổ xưa đ&oacute;. Đ&oacute; l&agrave; điều phải v&acirc;ng lời. Vinh dự biết bao cho người thầy l&agrave;m được điều đ&oacute;, c&ugrave;ng với học tr&ograve;, c&ograve;n thực h&agrave;nh với cả người th&acirc;n, cả người th&acirc;n nữ, thực h&agrave;nh điều cổ xưa m&agrave; với học tr&ograve; th&igrave; cần triệt để hơn nhiều. Đ&oacute; l&agrave; lời ph&aacute;n truyền của đấng Sủng &aacute;i của Thần th&aacute;nh.</p>

<p style="text-align:justify">4. R.E XII</p>

<p style="text-align:justify">(C&ograve;n được gọi l&agrave; chỉ dụ dung h&ograve;a)</p>

<p style="text-align:justify">&ldquo;Đức vua thi&ecirc;ng li&ecirc;ng v&agrave; k&iacute;nh y&ecirc;u t&ocirc;n trọng mọi gi&aacute;o ph&aacute;i, c&aacute;c nh&agrave; tu h&agrave;nh cũng như c&aacute;c gia chủ. Người ban nhiều tặng phẩm kh&aacute;c nhau để tỏ l&ograve;ng qu&yacute; mến họ, nhưng Đức vua thi&ecirc;ng li&ecirc;ng kh&ocirc;ng coi tặng phẩm v&agrave; vinh dự được ban l&agrave; lớn m&agrave; l&agrave; nhằm gia tăng những yếu tố căn bản của mỗi gi&aacute;o ph&aacute;i. Sự gia tăng thực chất đ&oacute; gồm c&oacute; nhiều mặt, nhưng cốt yếu l&agrave; kiềm chế lời n&oacute;i, l&agrave; kh&ocirc;ng ca tụng gi&aacute;o ph&aacute;i n&agrave;y, ch&ecirc; bai gi&aacute;o ph&aacute;i kia m&agrave; kh&ocirc;ng c&oacute; cơ sở n&agrave;o. Chỉ c&oacute; sự nhẹ nh&agrave;ng, uyển chuyển mới l&agrave; cơ sở th&iacute;ch hợp. Mặt kh&aacute;c, c&aacute;c gi&aacute;o ph&aacute;i kh&aacute;c cũng sẽ được vinh hạnh nhờ cơ sở đ&oacute;. L&agrave;m được như thế th&igrave; c&oacute; thể l&agrave;m tăng trưởng gi&aacute;o ph&aacute;i m&igrave;nh m&agrave; cũng gi&uacute;p được cho gi&aacute;o ph&aacute;i kh&aacute;c. Nếu kh&aacute;c đi th&igrave; sẽ l&agrave;m hại gi&aacute;o ph&aacute;i kh&aacute;c v&agrave; l&agrave;m xấu gi&aacute;o ph&aacute;i m&igrave;nh. Những ai chỉ t&ocirc;n trọng ph&aacute;i m&igrave;nh, lu&ocirc;n ch&ecirc; bai ph&aacute;i kh&aacute;c, tức l&agrave; chỉ nghĩ rằng &ldquo;ta c&oacute; thể l&agrave;m vẻ vang m&ocirc;n ph&aacute;i của ta như thế n&agrave;o&rdquo; th&igrave; ngược lại, l&agrave; h&agrave;nh vi l&agrave;m tổn hại nặng nề m&ocirc;n ph&aacute;i của m&igrave;nh. Cho n&ecirc;n, chỉ c&oacute; sự ho&agrave; hợp l&agrave; đ&aacute;ng biểu dương m&agrave; mọi người cần phải nghe, mong muốn &nbsp;nghe người kh&aacute;c thuyết l&yacute;. Đ&oacute; thực sự l&agrave; ước nguyện của Đức vua thi&ecirc;ng li&ecirc;ng, mong mỏi rằng mọi gi&aacute;o ph&aacute;i đều c&oacute; hiểu biết rộng v&agrave; gi&aacute;o l&yacute; đ&uacute;ng. Với những ai c&oacute; được l&ograve;ng trung th&agrave;nh như thế, sẽ được như lời của Đức vua thi&ecirc;ng li&ecirc;ng l&agrave; vinh hạnh của tặng phẩm từ b&ecirc;n ngo&agrave;i kh&ocirc;ng bằng sự gia tăng của điều cốt yếu v&agrave; hơi thở/sự ban ph&uacute;c của mọi gi&aacute;o ph&aacute;i...&rdquo;.</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;</p>

<p style="text-align:justify">C&aacute;c địa điểm c&oacute; Chỉ dụ Asoka tr&ecirc;n bản đồ Ấn Độ</p>

<p style="text-align:justify">B&igrave;nh luận</p>

<p style="text-align:justify">C&aacute;c văn khắc ph&aacute;t hiện được tr&ecirc;n khắp c&aacute;c v&ugrave;ng l&atilde;nh thổ cho thấy quyền lực của &nbsp;vương triều Maurya thời Asoka thực tế bao tr&ugrave;m gần khắp b&aacute;n đảo. &nbsp;Một điều &nbsp;đến nay chưa r&otilde; l&agrave; l&yacute; do v&igrave; sao m&agrave; thời Asoka v&agrave; cả thời Sultanat Delhi sau n&agrave;y (1206-1526) ra sức b&agrave;nh trướng vẫn kh&ocirc;ng thu phục được mỏm cực Nam?</p>

<p style="text-align:justify">C&aacute;c văn khắc tr&iacute;ch dịch ở đ&acirc;y đều t&igrave;m thấy chủ yếu ở v&ugrave;ng đất Kalinga, ph&iacute;a Đ&ocirc;ng - Bắc b&aacute;n đảo, nơi diễn ra trận chiến chinh phục &aacute;c liệt của Asoka.</p>

<p style="text-align:justify">C&oacute; thể thấy c&ugrave;ng với việc bảo trợ cho ba hội nghị Phật gi&aacute;o, việc x&acirc;y nhiều stupas v&agrave; việc dựng đặt 31 văn khắc chỉ dụ, &ocirc;ng thực sự l&agrave; người tin theo Phật gi&aacute;o; tin v&agrave; theo v&igrave; nhiều lẽ, chứ kh&ocirc;ng phải l&agrave; người thấm nhuần gi&aacute;o l&yacute; Phật, kh&ocirc;ng phải sự ăn năn, k&ecirc;u gọi từ t&acirc;m sau chiến tranh &aacute;c liệt, gi&aacute;o l&yacute; Phật được &ocirc;ng diễn tả b&agrave;ng bạc mơ hồ, thiếu hệ thống. Bằng sự k&ecirc;u gọi h&ograve;a hợp, &ocirc;ng g&oacute;p phần chấn hưng v&agrave; ph&aacute;t triển Phật gi&aacute;o, nhưng cũng c&oacute; phần lớn l&agrave; sự ổn định đế quốc đang c&oacute; nguy cơ tan r&atilde; với 12 gi&aacute;o ph&aacute;i v&agrave; những nguy&ecirc;n nh&acirc;n ph&acirc;n t&aacute;n kh&aacute;c. Cho n&ecirc;n, c&oacute; thể n&oacute;i, mối quan t&acirc;m chủ yếu của Asoka l&agrave; sự h&ograve;a hợp, b&igrave;nh ổn trong đế quốc của &ocirc;ng.</p>

<p style="text-align:justify">d. Asoka v&agrave; lịch sử</p>

<p style="text-align:justify">Thật đ&atilde; r&otilde;, b&aacute;n đảo Ấn Độ rộng lớn, lần đầu ti&ecirc;n h&igrave;nh th&agrave;nh một đế quốc. Romila Thapar, Gi&aacute;o sư Trường Đại học quốc gia Nehru-Delhi cho rằng kh&ocirc;ng cần phải b&agrave;n c&atilde;i đ&oacute; c&oacute; thực l&agrave; một đế quốc hay kh&ocirc;ng m&agrave; vấn đề l&agrave; v&igrave; sao từ thế kỷ III trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n lại c&oacute; &nbsp;thể c&oacute; tư tưởng x&acirc;y dựng một đế quốc với thiết chế cai quản kh&aacute; hệ thống, cũng như đế quốc Roma, sớm hơn v&agrave; hệ thống hơn đế quốc Tần - Trung Hoa?</p>

<p style="text-align:justify">D&ugrave; l&agrave; với mức độ n&agrave;o, ở đ&acirc;y gọi l&agrave; đế quốc (Empire), đ&uacute;ng với &yacute; của ho&agrave;ng đế Asoka, một thiết chế được cai quản, tổ chức thống nhất, với những quy định thống nhất b&ecirc;n trong. Kh&aacute;i niệm đế chế thường mang &yacute; nghĩa tượng trưng, như đế chế Đảo, đế chế dầu hoả...</p>

<p style="text-align:justify">Thời của vương triều Maurya v&agrave; của Asoka n&oacute;i ri&ecirc;ng l&agrave; ho&agrave;n cảnh x&atilde; hội - lịch sử của sử thi Ramayana. Nếu kh&ocirc;ng c&oacute; những cuộc tiến qu&acirc;n của Asoka, kh&ocirc;ng c&oacute; hiểu biết về Deccan v&agrave; phương Nam th&igrave; cũng kh&ocirc;ng thể c&oacute; hiểu biết bổ sung cho sử thi n&agrave;y với cuộc viễn chinh của đạo qu&acirc;n vua Khỉ Hanuman về phương Nam, những cuộc h&agrave;nh qu&acirc;n dọc đường rừng, cuộc vượt biển đến đảo Lancasuka.</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;Tư tưởng của sử thi Ramayana l&agrave; &ldquo;c&acirc;u chuyện cảm động nhất về l&ograve;ng hiếu thảo m&agrave; nh&acirc;n loại c&oacute; thể c&oacute; được&rdquo; (Tulsi Das).</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;Đ&oacute; cũng l&agrave; điều m&agrave; Asoka hiểu một c&aacute;ch lờ mờ về dharma với nội dung ch&iacute;nh, được nhắc đi, nhắc lại bằng &ldquo;l&ograve;ng hiếu với cha mẹ, đễ với anh em&rdquo;, th&ecirc;m một điều nữa cũng lơ mơ kh&ocirc;ng k&eacute;m l&agrave; &ldquo;rộng l&ograve;ng với mọi người&rdquo;, kể cả Brahmin. Đ&acirc;y kh&ocirc;ng thuần t&uacute;y l&agrave; gi&aacute;o l&yacute; Phật m&agrave; l&agrave; quan niệm về dharma n&oacute;i chung c&oacute; từ trước Phật của &nbsp;x&atilde; hội Hindu, của Homo Philosophicus Hindustus.</p>

<p style="text-align:justify">Vương triều Maurya v&agrave; Asoka n&oacute;i ri&ecirc;ng đ&atilde; đặt cơ sở, tiền đề của sự ph&aacute;t triển sau n&agrave;y của Ấn Độ tr&ecirc;n to&agrave;n l&atilde;nh thổ, gần gũi hơn l&agrave; của thời Gupta truyền thống, cổ điển từ miền Bắc Ấn v&agrave; của văn h&oacute;a truyền thống Gupta, của những c&ocirc;ng tr&igrave;nh ch&ugrave;a hang v&agrave; tượng Phật Gupta ở miền ven biển xa x&ocirc;i T&acirc;y Ghat, Adjanta v&agrave; Elephanta, &quot;vừa kỳ vĩ v&ocirc; c&ugrave;ng, vừa tinh tế v&ocirc; c&ugrave;ng&rdquo; như lời của Đường tăng Huyền Trang.</p>

<p style="text-align:justify">Thời của vương triều Maurya v&agrave; n&oacute;i chung, nửa cuối thi&ecirc;n ni&ecirc;n kỷ I trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n, l&agrave; thời kiến tạo cho tương lai Ấn Độ. Asoka cố gắng x&acirc;y dựng một đế quốc thống nhất to&agrave;n b&aacute;n đảo, về thiết chế, tổ chức, về vật chất v&agrave; tinh thần. Đ&oacute; l&agrave; mấy thế kỷ ho&agrave;n chỉnh v&agrave; phổ biến Hindu gi&aacute;o, mấy thế kỷ sau Panini, Phạn ngữ (Sanskrit) được ho&agrave;n thiện, phổ biến, ghi lại c&aacute;c kinh tịch Hindu gi&aacute;o, c&aacute;c sử thi v&agrave; văn thơ Hinduist, trở th&agrave;nh ng&ocirc;n ngữ v&agrave; văn tự ch&iacute;nh thức trong x&atilde; hội. Đ&oacute; cũng l&agrave; mấy thế kỷ ph&aacute;t triển Phật gi&aacute;o, cả chiều rộng v&agrave; chiều s&acirc;u. Phật gi&aacute;o h&igrave;nh th&agrave;nh tr&ecirc;n đất Bắc Ganga cho đến ch&acirc;n Himalaya, truyền b&aacute; tư tưởng Phật bằng phương ngữ miền Bắc, Prakrit v&agrave; x&acirc;y dựng chữ viết Pali để ghi ch&eacute;p kinh v&agrave; thoại Phật gi&aacute;o. Do điều kiện lịch sử m&agrave; chữ Pali &iacute;t phổ biến rộng, chỉ giới hạn chủ yếu trong c&aacute;c nh&agrave; tu h&agrave;nh Phật gi&aacute;o v&agrave; kinh tịch Phật gi&aacute;o.</p>

<p style="text-align:justify">Cho đến đầu C&ocirc;ng nguy&ecirc;n, ở Ấn Độ, cả hai d&ograve;ng tư tưởng Phật v&agrave; Hindu c&ugrave;ng song h&agrave;nh trong x&atilde; hội. Ở dạng l&yacute; thuyết đơn thuần, hai d&ograve;ng tư tưởng n&agrave;y kh&ocirc;ng kh&aacute;c nhau, c&ugrave;ng c&oacute; nguồn gốc tư tưởng Ấn Độ cổ, n&ecirc;n c&oacute; thể c&ugrave;ng tồn tại, thậm ch&iacute; h&ograve;a quyện v&agrave;o nhau. Tuy nhi&ecirc;n, cứu c&aacute;nh kh&aacute;c nhau đ&atilde; dẫn đến sự xa c&aacute;ch, thậm ch&iacute; đi ngược chiều nhau. Con đường giải ph&oacute;ng của Phật l&agrave; diệt dục, xa l&aacute;nh trần ai, l&agrave; &quot;tho&aacute;t tục&rdquo;, &quot;Niết b&agrave;n&quot; (Nirvana) được thể hiện bằng h&igrave;nh ảnh đơn giản h&oacute;a, l&agrave; nằm ngủ. V&igrave; thế m&agrave; Phật gi&aacute;o kh&ocirc;ng c&oacute; chỗ đứng trong l&ograve;ng x&atilde; hội Ấn Độ. Từ đầu C&ocirc;ng nguy&ecirc;n, Phật gi&aacute;o suy giảm dần đến gần hết; tuy nhi&ecirc;n, n&oacute; lại t&igrave;m được sức sống ở những x&atilde; hội ch&acirc;u &Aacute; kh&aacute;c, theo con đường từ ph&iacute;a Bắc đi về Trung &Aacute; v&agrave; Đ&ocirc;ng &nbsp;&Aacute;, đi về ph&iacute;a Đ&ocirc;ng - Nam, đến Nam &Aacute; v&agrave; Đ&ocirc;ng Nam &Aacute;. Theo chiều ngược lại, Hindu gi&aacute;o chủ trương dung tục, tức l&agrave; sống tự nhi&ecirc;n, sống thực; n&ecirc;n tượng thần thường khỏa th&acirc;n, kể cả Siva, đ&ocirc;i khi c&ograve;n cố &yacute; nhấn mạnh sự khỏa th&acirc;n của Siva, như h&igrave;nh tượng Nataraja ở Chola. C&ograve;n ở Khadjuraho v&agrave; một số nơi kh&aacute;c, h&igrave;nh tượng những con người &acirc;u yếm nhau giữa thanh thi&ecirc;n bạch nhật; cứ như l&agrave; con người chỉ t&igrave;m được tự do, sự giải ph&oacute;ng, bằng con đường n&agrave;y trong một x&atilde; hội kh&ocirc;ng chạy đ&acirc;u cho tho&aacute;t &aacute;p bức, b&oacute;c lột v&agrave; đe dọa. Cho n&ecirc;n, Hindu gi&aacute;o ng&agrave;y c&agrave;ng phổ biến rộng, ăn s&acirc;u trong x&atilde; hội. Trong suốt chiều d&agrave;i lịch sử, ở đ&acirc;u c&oacute; người Ấn Độ, ở đ&oacute; c&oacute; Hindu gi&aacute;o, bất chấp mọi trở ngại đe dọa.</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;Ở Ấn Độ vốn ẩn chứa sẵn những mầm mống của sự chia rẽ về địa l&yacute;, d&acirc;n cư v&agrave; gi&aacute;o ph&aacute;i, sau khi ho&agrave;ng đế Asoka qua đời (năm 232 trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n), đế quốc của &ocirc;ng tan r&atilde;, những thế kỷ cuối trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n v&agrave; mấy thế kỷ đầu C&ocirc;ng nguy&ecirc;n ở Ấn Độ, đ&atilde; diễn ra một qu&aacute; tr&igrave;nh ngược rất l&yacute; th&uacute;, rất lạ: Phật gi&aacute;o ti&ecirc;u giảm nhưng Hindu gi&aacute;o tăng tiến dần, h&igrave;nh th&agrave;nh một nền văn h&oacute;a truyền thống Hindu Gupta theo cứu c&aacute;nh Hindu gi&aacute;o l&agrave; chấp nhận thụ động dharma, tự giải ph&oacute;ng bằng cuộc sống tự nhi&ecirc;n, bản năng. Trong sự suy giảm chuyển biến đ&oacute;, những c&ocirc;ng tr&igrave;nh Phật gi&aacute;o đồ sộ vẫn được khởi c&ocirc;ng, x&uacute;c tiến. H&agrave;ng chục ch&ugrave;a hang Adjanta v&agrave; Elephanta, nhiều stupas lớn, như Sanchi trải d&agrave;i từ thế kỷ III trước C&ocirc;ng nguy&ecirc;n đến thế kỷ IV sau C&ocirc;ng nguy&ecirc;n, r&otilde; r&agrave;ng l&agrave; những c&ocirc;ng tr&igrave;nh Phật gi&aacute;o, nhưng ph&ugrave; đi&ecirc;u tượng v&agrave; người lại mang đậm phong c&aacute;ch nghệ thuật Hindu Gupta, đầy sức sống tự nhi&ecirc;n, bản năng, &ldquo;nơi nhục cảm gặp gỡ thăng hoa&rdquo; (Rohini Sharma).</p>

<p style="text-align:justify">Nguồn: Khoa Lịch sử, Một chặng đường nghi&ecirc;n cứu lịch sử, Nxb Ch&iacute;nh trị Quốc gia, H&agrave; Nội, 2006, tr.850-863.</p>

<p style="text-align:justify">&nbsp;</p>

<p style="text-align:justify"><br />
[1]. T&ecirc;n hiệu của Asoka.</p>

<p style="text-align:justify">[2]. C&aacute;c quan chức thời Maurya.</p>

<p style="text-align:justify">[3]. Bộ m&aacute;y quan chức thời Maurya.</p>

<p style="text-align:justify">[4]. C&aacute;c chức tước thời Maurya.</p>

<p style="text-align:justify">[5]. C&aacute;c quốc gia Bắc Ấn.</p>

<p style="text-align:justify">[6]. C&aacute;c quốc gia Nam Ấn.</p>

<p style="text-align:justify">[7]. C&aacute;c v&ugrave;ng d&acirc;n cư ở thượng lưu s&ocirc;ng Hằng.</p>

<p style="text-align:right"><em><strong>T&aacute;c giả:&nbsp;GS. Lương Ninh</strong></em></p>

<p style="text-align:right"><a href="http://dongphuonghoc.org"><em><strong>Khoa Đ&ocirc;ng phương học</strong></em></a></p>

		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/phat-giao-tu-siddharta-den-asoka-194.html" title="Phật giáo từ Siddharta đến Asoka">https://fos.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/tan-man-phuong-dong/phat-giao-tu-siddharta-den-asoka-194.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Khoa Đông phương học
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:webmaster@flis.vinades.my">webmaster@flis.vinades.my</a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<div id="run_cronjobs" style="visibility:hidden;display:none;"><img alt="cron" src="/index.php?second=cronjobs&amp;p=l6IeWif8" width="1" height="1" /></div>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=7,nv_my_abbr="+07",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=1,nv_recaptcha_ver=2,nv_recaptcha_sitekey="6LfUJLoZAAAAAOF-uL1e3WO-MbQOZOJfBeGwOWBw",nv_recaptcha_type="image",XSSsanitize=1;</script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/main.js"></script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/custom.js"></script>
<script type="application/ld+json">
        {
            "@context": "https://schema.org",
            "@type": "Organization",
            "url": "https://fos.ussh.vnu.edu.vn",
            "logo": "https://fos.ussh.vnu.edu.vn/uploads/fos/dph-5.png"
        }
        </script>
<script src="https://fos.ussh.vnu.edu.vn/themes/flis/js/bootstrap.min.js"></script>
</body>
</html>